Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn đàn triết và thần học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Diễn đàn triết và thần học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

Sợi chỉ mong manh

Sợi chỉ, chất liệu nhỏ bé. Nó là thứ mà ít người quan tâm, nằm khuất trong những gì là to lớn và đồ sộ. Về mặt bản chất, nó có chức năng nối kết những thành phần khác nhau. Tuy nhiên, nó cũng chịu áp lực của sự giằng co : trọng lượng, trọng lực và xu hướng tách lìa nhau của các thành phần. Tôi muốn dùng hình ảnh này để chia sẻ một vài suy niệm, xuất phát từ thực tại đời sống mà chúng ta nhận thấy từ nhiều khía cạnh khác nhau của nó hôm nay. 

1    Hình ảnh sợi chỉ mong manh này gợi nên cho chúng ta tính mong manh dễ vỡ. Sự dễ vỡ này được tìm thấy một cách rõ nét trong các mối tương quan con người và xã hội : mối tương quan liên vị giữa từng cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội. Quả thật, mối tương quan là sợi chỉ. Sợi chỉ có khả năng liên kết. Nhưng, nó cũng có thể dễ dàng bị rạn đứt, vì tính đa dạng và khác biệt tạo nên sự xung đột. Cái khác biệt mang tính tự nhiên, nhưng cái làm cho sự khác biệt trở nên kết hợp hài hòa mang tính sáng tạo. Tính mong manh không hẳn thuộc về bản chất, mà còn vì thế giới nơi mà sự sáng tạo bị bóp nghẹt.   

     Vào thế kỷ XVIII, Jean-Jacques Rousseau, triết gia người Pháp, đưa ra ý tưởng « Hợp đồng xã hội », được thiết lập trên nền tảng căn bản là bình quyền và tự do theo ý muốn của toàn thể nhân dân, nhằm đảm bảo sư vận hành xã hội trong sự công bằng và qua đó từng cá nhân tìm lại được yếu tính tốt thuộc bản chất tự nhiên. Thiết tưởng, tư tưởng triết học của Jean-Jacques Rousseau mang tính thời sự, nhưng những xung đột xã hội hiện tại cho thấy sự bình quyền và tự do không mấy được đảm bảo. Sợi chỉ của « hợp đồng xã hội » mà Jean-Jacques Rousseau sáng tạo cũng rất mong manh. « Hợp đồng xã hội » này dễ bị vi phạm. 

Ki-tô giáo ngay từ đầu đề nghị con đường sống cộng đoàn hợp nhất bằng yếu tố siêu nhiên và tự nhiên như mô tả của sách Công vụ Tông đồ : « Các Ki-tô hữu chuyên cần nghe các Tông đồ  giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. […]. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. […]. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. » (CV 2, 42-46). Đoạn Kinh Thánh này hàm ý tính siêu nhiên – hướng về Thiên Chúa, đảm bảo trật tự tự nhiên, nhưng lại không loại trừ sự tự do. Sợi chỉ của tinh thần siêu nhiên mỏng manh nơi sự tự do con người.  

2   Sợi chỉ mong manh nhưng hàm chứa sức mạnh nội tại. Sự tự do làm cho sự khác biệt lớn dần và có nguy cơ bất khả dung hòa. Các hiện tượng và khuynh hướng xã hội trong thế giới hôm nay bộc lộ vấn đề này cách rõ nét. Sợi chỉ mong manh, nhưng nó đảm bảo cho con người trở nên hòa hợp. Sợi chỉ này chính là những giá trị nhân văn, tinh thần, văn hóa và tôn giáo. Chúng là chất xúc tác cho sự phát triển, cũng như chất keo hàn gắn sự tổn thương nơi mối tương quan. Là chất xúc tác, vì chúng giúp cho sự phát triển tìm lại được ý nghĩa của nó ; là chất keo, vì chúng dẻo dai và khả năng tồn tại lâu bền.  
     
     Thế giới hôm nay chú trọng tới thành quả phát minh to lớn. Người ta cũng dễ bị thu hút theo trào lưu bởi cái hùng vĩ dưới đôi mắt trần. Con người cũng có nguy cơ rơi vào khuynh hướng tạo nên sự khác biệt không thể dung hòa vì chủ nghĩa cá nhân hay lợi ích riêng tư. Sợi chỉ nhỏ bé, mong manh và ẩn mình. Nó là cốt cách, sức mạnh tiềm ẩn, nhưng dễ bị xóa nhòa trong thế giới hôm nay.  


Pet. Tran Van Khue, aa


Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

NGỠ NGÀNG


Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật III Phục Sinh nói về sự ngỡ ngàng của các môn đệ Chúa Giêsu trong lúc gặp gỡ Ngài sau phục sinh. Đây là lần Chúa tỏ mình ra chung cho các môn đệ trong khi các ông đang kể về việc Chúa đã hiện ra như thế nào với những người trong số họ. Họ ngỡ ngàng vì được xem chân tay của Chúa. Từ trình thuật Tin Mừng này chúng ta có thể rút ra một vài gợi ý suy niệm.

Điều thứ nhất, việc nhận biết Đức Giêsu phục sinh không còn là chuyện cá nhân riêng tư hay riêng lẻ, mà là trong lòng của một cộng đoàn đang chia sẻ với nhau về những gì liên hệ tới con người Đức Giêsu : họ đã thuật lại việc mình nhận ra Chúa như thế nào khi Ngài bẻ bánh. Quả thật, hành vi của Đức Giêsu mà hai người môn đệ trên đường về làng Emmau gợi nhớ hình ảnh biến cố Vượt Qua mà họ vừa trải qua, nhưng đồng thời cũng nói về khung cảnh nơi đó họ nhận biết Chúa : việc cử hành Bữa Tiệc Ly của Chúa. Họ cảm nhận niềm vui và ngỡ ngàng về sự hiện diện của Ngài.

Điều thứ hai, Chúa mang đến cho con người sự ngỡ ngàng. Cuộc sống con người được đan xem bởi nhiều yếu tố vui mừng và buồn chán, xác tín và hoài nghi, mạnh mẽ và yếu đuối, thông suốt và mơ hồ…. Chúa đến và con người ngộ ra cái gì đó nơi cuộc sống vượt xa sự hiểu biết và toan tính con người. Về điểm này các nhà tư tưởng nói đó là cách mà Thiên Chúa mạc khải Ngài cho con người (cho con người được biết về Thiên Chúa). Còn về chiều kích thiêng liêng, điều này nói cho chúng ta hiểu rằng cuộc sống không chỉ bao hàm các công thức tính toán, mà nó mang trong chính nó ý nghĩa huyền diệu và Thiên Chúa giúp con người nhận biết.

Hãy để cho những gì đến làm cho chúng ta ngỡ ngàng nơi cuộc sống. Đó mới là sự kỳ diệu của đời sống con người.  

Pet. Trần Văn Khuê, aa

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

SA MẠC


Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Chay năm B mô tả cho chúng ta sa mạc mà Chúa Giê-su được Thánh Thần thúc đẩy vào trong đó. Không giống như cách trình bày của thánh Mát-thêu : Chúa Giê-su vào sa mạc để chay tịnh, hay trình bày của thánh Lu-ca : Người không ăn uống gì trong bốn mươi đêm ngày, thánh Mác-cô nói cách đơn giản : nơi đó, trong bốn mươi đêm ngày, Chúa Giê-su bị Sa tan cám dỗ. Mặt khác, khi đọc đoạn Tin Mừng này chúng ta cũng không có cảm tưởng về một sa mạc thiên nhiên, nhưng là không gian mà nơi đó xuất hiện Chúa Giê-su, thiên thần, Sa tan và thú dữ.

Trình thuật này cho chúng ta hai ý tưởng :

Ý tưởng thứ nhất : Chúa Giê-su đi vào sa mạc trong lòng thế giới tạo dựng của Thiên Chúa. Thế giới này có các thiên thần là tính chất uyên nguyên của công trình sáng tạo của Ngài, nhưng một phần đang bị Sa tan chiếm lĩnh. Hình ảnh thú dữ vừa nói lên tính hoang dã và dữ dằn do tội lỗi thống trị. Trong lòng thế giới này Thiên Chúa muốn thực hiện một cuộc tái tạo mới.

Ý tưởng thứ hai là : sa mạc mà Chúa Giê-su được Thánh Thần đưa vào chính là con người. Con người ẩn chứa tính chất « thiên thần », nhưng đồng thời bị Sa tan đánh phá làm cho trở nên « thú dữ ». Từ đây, chúng ta hiểu tạo sao Tin Mừng nhất lãm ghi lại nhiều câu chuyện Chúa Giê-su xua trừ ma quỷ và chữa lành cho người mắc bệnh thần ô uế. Đó cũng là cuộc tái tạo mới mà Chúa Giê-su muốn thực hiện, nhưng là một cuộc tái tạo của lòng thương xót vì Thiên Chúa đã ban cho con người được tự do : đưa con người bị hư mất trở về với Thiên Chúa trong sự tự do.

Ý nghĩa của đoạn Tin Mừng này đưa chúng ta vào hành trình sa mạc nội tâm, trong lòng thế giới, để gặp gỡ Thiên Chúa. Một cuộc gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa sẽ hoàn toàn đổi mới con người.

Pet. Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

MA QUỶ

Bài đọc Tin Mừng Chúa Nhật V thường niên năm B được trích từ một loạt hoạt động sứ vụ công khai đầu tiên của Chúa Giê-su tại Ga-li-lê trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô. Công việc của Ngài được chú trọng cách đặc biệt nơi việc rao giảng, chữa lành bệnh tật và xua trừ ma quỷ nơi con người. Yếu tố thứ ba này cho chúng ta cảm giác : Chúa Giê-su đang bước vào thế giới đã bị ma quỷ xâm nhập tràn lan và chiếm ngự con người. 

Ma quỷ là một thực thể được nói tới từ lâu trong Kinh Thánh – bắt đầu chương thứ nhất của sách Sáng Thế Ký. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tự hỏi : nó thực sự là cái gì ?

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô là người trong thời đại chúng ta nói nhiều về ma quỷ. Ký giả người Ý, Gelsomino Del Guercio, đăng trên trang aleteia.org bài viết : « Que pense le pape François du diable ? » (Đức giáo hoàng Phan-xi-cô nghĩ gì về ma quỷ)[1], lấy lại một số yếu tố  từ cuốn sách « Il diavolo c’è » của nhà văn người Ý Diego Manetti, tổng hợp những lần Đức Giáo Hoàng nói về ma quỷ nơi các bài giảng, giáo lý và thuyết trình. Nội dung và hình hài của ma quỷ được nhận diện như là :
1.       Kẻ mang đến điều đắng cay
Ma quỷ là hiện thân của người bi quan : gieo rắc điều đắng cay và chán nản cho mọi người và cho Giáo Hội. Trong khi đó Giáo Hội của Chúa Ki-tô luôn được Thánh Thần thánh hóa và ban sức mạnh (x. Bài huấn dụ cho các Hồng y, ngày 15 tháng 03 năm 2013).
2.       Kẻ đánh cắp niềm hy vọng
Khi con đường của chúng ta trở nên ghồ ghề và chông gai, ma quỷ đến - thường ngụy trang dưới hình dạng của thiên thần, để nói với chúng ta lời tuyệt vọng (x. Bài giảng Chúa Nhật lễ Lá, 24/03/2013).
3.       Kẻ gieo mầm lời ba hoa và mối bất hòa
Ma quỷ điến chống phá sự hợp nhất, tạo chiến tranh nội bộ - một loại nội chiến. Đó là cuộc chiến tranh không phải bằng đạn dược, mà bằng cái lưỡi con người (x. Bài giảng cho Lính gác Va-ti-căng, 28/09/2013).
4.       Quỷ khôn khéo
Ma quỷ khôn khéo đưa ra ngàn vạn chương trình phi nhân hóa (làm mất tính người) cho con người, vì tính cách của nó là thù ghét con người (x. Bài suy niệm, 29/09/2014).
5.       Kẻ quyến rũ hiểm độc
« Satan là kẻ quyến rũ, người giăng bẫy. Nó quyến rũ bằng cách làm cho người ta say mê vẻ đẹp, vẻ đẹp quỷ dữ lôi cuốn anh em vào tin tất cả. Với vẻ đẹp quyến rũ này nó biết cách bán và bán rất tốt, nhưng cuối cùng chúng ta phải trả giá đắt » (Bài giảng cho Đội hiến binh tại Va-ti-căng, 03/10/2015).
6.       Hình bóng thần ô uế
Đó là những ý nghĩ không còn muốn chiến đấu trong cuộc chiến cho điều thiện (x. Bài suy niệm, 19/01/2017).
7.       Không đối thoại
« Con rắn, quỷ dữ rất xảo quyệt : chúng ta không thể đối thoại với nó. […]. Tràn ngập những cám dỗ về sự phù vân, kiêu ngạo, hám của, hà tiện ! » (x. Bài suy niệm, 10/02/2017).
8.       Tính chất trần tục
Khi ta không còn chọn con đường của Chúa, mà là con đường của sự phù vân, trần tục (x. Bài suy niệm, 21/02/2017).
9.       Đạo đức giả và xu nịnh
Đạo đức giả được bắt đầu từ xu nịnh. Nó là kỷ thuật của kẻ đạo đức giả, nhằm đạt được mục đích riêng của mình (x. Bài suy niệm, 06/06/2017).
Như vậy, ma quỷ không phải là cái gì đó mà chúng ta mường tượng đến sợ hãi theo trí tưởng tượng, nhưng là thực tại hiện sinh giam hãm con người đến tiều tụy : không thể sống đầy đủ tính chất uyên nguyên con người. Đó là điều mà Tin Mừng cho chúng ta được biết ngang qua các câu chuyện chữa lành của Chúa Giê-su : nó làm cho con người trở nên ô uế, thích sống giữa người chết và hủy hoại chính mình. 
Pet. Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2018

BỐN THÁCH ĐỐ CỦA NỀN NHÂN BẢN ĐƯƠNG ĐẠI


Xin được giới thiệu bài viết của nhà báo Béatrice Bouniol : « Les quatre défis de l’humanisme contemporain », được đăng trên tờ nhật báo La Croix, thứ 6 ngày 26 tháng 01 năm 2018, do Bayard Presse, thuộc dòng Đức Mẹ Lên Trời tại Pháp quốc, xuất bản.

Khủng hoảng sinh thái và di dân, trệch hướng của nền kinh tế mất cân đối hay sự phát triển công nghệ đòi buộc chúng ta suy tư lại nền nhân bản mới nếu không muốn nó trở thành một lý tưởng nguội lạnh, xa rời thực tại của thế giới.

Khủng hoảng di dân

Trên hết mọi thách đố hiện nay, đó là khó lòng thực hiện lời cam kết trọng tâm của nền nhân bản : bình đẳng nhân phẩm của mọi con người. Như ghi nhận của nhà sử học, Olivier Christin, vào thế kỷ XVI các nhà chủ nghĩa nhân bản suy nghĩ về « một nhân loại chung » trong bối cảnh toàn cầu hóa.

« Ông giải thích rằng trong lịch sử hiện đại, châu Âu đã biết đến các trào lưu di dân lớn – người Do-thái Tây ban nha, rồi người Can-vanh Pháp, trong khi những khám phá lớn đặt vấn đề về tính đa dạng văn hóa. Nói về các cuộc tranh luận sôi nổi này, những người thuộc Kỷ Nguyên Ánh Sáng đưa ra lời giải đáp : chúng ta liên đới với tất cả mọi con người, ngay cả khi ở xa. » Tiếp theo sau họ, ngày nay một số người đề xuất sự cần thiết tách quyền căn bản của con người với tính chất công dân, số khác mở rộng yếu tố thứ hai này với « tính chất công dân thế giới ».

Thách đố đầu tiên của nền nhân bản, khủng hoảng di dân nhắc nhớ chúng ta về sự bấp bênh của tính lịch sử. Triết gia Marc Crépon, người đưa ra khái niệm : « đồng thuận chết người » nhằm nói tới sự thỏa hiệp với bạo lực, nhắc lại : « Mối tương quan đạo đức duy nhất với người khác đó là sư chăm sóc và trợ giúp, để đáp lại tính chất dễ chết và dễ bị tổn thương của mọi con người chúng ta cần phải luôn chấp nhận thỏa hiệp với nguyên tắc vô điều kiện ».

« Ông nói thêm, một nền nhân bản muốn tránh khỏi hối hận về bất cứ điều gì phải bắt đầu nhìn nhận điểm yếu này và phát minh những con đường để đi ra khỏi tính thụ động. Nỗi dậy, phê bình các diễn từ của người theo chủ nghĩa hư vô là trong số con đường đó, tất cả được xem như cử chỉ của lòng tốt. »

Khủng hoảng sinh thái

Ý tưởng về con người đo lường tất cả mọi thứ, tách khỏi môi trường, đã gây nên nhiều chỉ trích gay gắt. Hệ quả mang tính phá hủy của lối sống con người trên hành tinh và các sinh vật khác phơi bày lỗ hổng của một nền nhân bản tìm cách tách lìa khoa học về con người và khoa học về thiên nhiên suốt chiều dài của thế kỷ XVI và XVII. Việc hâm nóng khí hậu và sự đau đớn của động vật đòi buộc chúng ta từ bỏ quan điểm về con người như hữu thể tự do thuần túy, « không quê hương » theo từ ngữ hiện hành.

Khủng hoảng sinh thái đòi hỏi « suy tư về giới hạn của thẩm quyền và quyền hạn chúng ta, như Corine Pelluchon xác định trong cuốn sách : Ethique de la considération (NXB Seuil). Nó mở ra một nền nhân bản mới bao gồm những thế hệ tương lai và sinh vật khác, nhấn manh về sự tự do, đồng thời về tính vật chất của sự sống và tính chất dễ bị tổn thương. Trong tư tưởng nhân bản cổ điển, tự do của tôi được giới hạn bởi tự do của tha nhân ; luật đảm bảo về điều đó. Tại thời điểm này, chúng ta phải chấp thuận tự giới hạn tiêu thụ nhằm phòng giữ thế giới chung. »

Di sản của nền nhân bản không phải để vứt bỏ, nhưng là để kiện toàn : con người phát triển ý thức về giới hạn khi chú ý tới môi trường xung quanh.

Khủng hoảng tân chủ nghĩa tự do

Tập trung cho sự giàu có, tính chất mong manh, mệt nhọc trong công việc…. Trong lúc mất khả năng điều tiết toàn cầu, câu hỏi của nền nhân bản vang vọng một cách khác : một cuộc sống tốt và tự do là gì ? « Olivier Christin liệt kê : đó không phải là cuộc sống bị rút kiệt trong sự sống còn hay tiêu thụ, không phải là cuộc sống của con người được thu gọn trong sự biến đổi thất thường vì việc điều chỉnh theo mô hình xã hội. Tính tàn nhẫn của kinh tế hiện nay đặt lại câu hỏi về sự hoàn thành, giá trị và cứu cánh của đời sống con người. »

Cũng vậy, nó thúc đẩy suy tư về đồ án xã hội chúng ta. Nền nhân bản hôm nay cũng đi ngang qua chủ nghĩa duy ý chí mang tính chính trị, bởi lẽ « Chính phủ phải khẳng định lại sứ mạng bao hàm tổ chức xã hội cho công lý và hòa bình và không phải cho đặc quyền đặc lợi của một số người, Corine Pelluchon nhấn mạnh. Hệ tư tưởng đưa tới việc quên đi giá trị con người  và phá hủy ý nghĩa của lao động có tên gọi : chủ nghĩa kinh tế. Nó tiêm nhiễm não trạng con người. Tái khẳng định nền nhân bản, theo đuổi dự án giải phóng đưa con người ra khỏi sự thống trị của hiệu năng và mặc cả là cách duy nhất để phòng giữ nền dân chủ. »

Khủng hoảng công nghệ mới

Chương trình thu tóm nơi chính nó tầm quan trọng của thách đố được đặt ra bởi công nghệ mới : chuyển đổi con người, muốn gia tăng tính chất thể lý và tâm trí con người ngõ hầu vượt lên giới hạn sinh học.

Olivier Christin cảnh báo những tiến bộ công nghệ đặt lại vấn đề « ranh giới của nhân vị con người, chiêu tập đầu tư khổng lồ của những người theo chủ nghĩa nhân bản, không chỉ quan tâm tới những khả dĩ của khoa học ». Nó đòi hỏi tranh luận về sự tự do mà Corine Pelluchon nhắc lại : tự do không có nghĩa là được làm mọi thứ, nhưng là hướng sự tiến bộ tới những gì là tốt đẹp mà chúng ta chọn lựa tôn kính và những gì đang tới mà chúng ta từ chối ». 

Chúng ta mong muốn điều gì, định dạng con người như thế nào ? Đó là những câu hỏi mà công nghệ kỹ thuật số cũng đặt ra, như nữ thần học gia, Gemma Serrano, trưởng phân khoa « Nền nhân bản kỹ thuật số » thuộc Trường cao đẳng Bernardins nêu lên.

Bà xác định rõ : « chúng ta không ở trong tình trạng đối diện với những công cụ mới, chúng ta đang bị nhấn chìm trong một nền văn hóa mới mang trong nó một lý tưởng chia sẻ và cộng tác. Việc nhấn chìm này không nhất thiết là tiêu cực với điều kiện chúng ta biết duy trì khả năng phân tích và hành động. Chúng ta không chỉ chịu ảnh hưởng của nền văn hóa kỹ thuật số này, nhưng còn tham dự một cách tích cực trong việc tạo lập nó. »

Như vào thời Kỷ Nguyên Ánh Sáng, giáo dục phải là trung tâm của mọi mối bận tâm chúng ta. Corine Pelluchon đúc kết vấn đề này như sau : « chúng ta không chỉ trang bị cho con người tri thức, nhưng còn phải dẫn dắt họ tới khả năng khẳng định sự tự trị nơi đời sống luân lý và tự nhân bản hóa trong việc phát triển một số thiên hướng luân lý nhất định. Bởi lẽ, không phải chỉ nhận biết thế giới nào chúng ta mong muốn truyền lại cho con cái, nhưng còn là những đứa con nào mà chúng ta mong muốn đặt để vào trong thế giới này. »

Pet. Trần Văn Khuê, aa, chuyển ngữ

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

UY QUYỀN CỦA CHÚA GIÊ-SU


Tin Mừng Chúa Nhật IV thường niên năm B

Ngày Chúa Nhật IV thường niên năm B chúng ta được nghe đoạn Tin Mừng theo thánh Mác-cô thuật lại câu chuyện Chúa Giê-su giảng dạy trong hội đường Ca-phác-na-um, miền Ga-li-lê và chữa lành một người bị quỷ ám (Mc 1,21-28). Mác-cô viết : « Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một người có thẩm quyền » ; và tiếp sau khi xua đuổi thần ô uế, « mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau : « Thế nghĩa là gì ? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền »[1].

Uy quyền gợi lên cho chúng ta ý tưởng về quyền bính (auctoritas, latin) : người nắm giữ quyền hành. Lẽ dĩ nhiên, quyền bính này là thẩm quyền hợp pháp. Thuật ngữ quyền bính được diễn giải cách khác nhau nơi từng phạm trù như : triết học, thần học, chính trị hay xã hội, cùng với tư duy khác biệt của mỗi thời kỳ. Trong thời Đế quốc La Mã - nơi và thời điểm mà các bản văn Tân Ước được hình thành, quyền bính là hệ thống luật mà Hoàng đế và các Thẩm phán là hiện thân của quyền bính. Sau đó, một số Giáo phụ cho tới thời Trung cổ thâu nhận ý tưởng này để trình bày về quyền bính của Kinh Thánh và của Người kế vị thánh Phê-rô và các giám mục trong Giáo hội. Tuy nhiên, Risto SAARINEN ghi nhận : « Tân Ước không biết tới quyền bính tương đương trực tiếp với quan điểm của người La Mã, và bản dịch Vulgate của Kinh Thánh không sử dụng từ này ; trong khi đó sử dụng thuật ngữ dunamis (x. 2Cr 8,3 ; Ep 3,16) : [sức mạnh hay khả năng], và exousia (x. Mt 21,23-27) : [quyền chọn lựa và tự do làm theo ý mình muốn] »[2].

Quả vậy, uy quyền của Chúa Giê-su biểu lộ sức mạnh và sự tự do của Thiên Chúa. Uy quyền thuộc bản chất Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su. Thái độ của Chúa Giê-su trong đoạn Tin Mừng theo thánh Mác-cô : không nói gì hơn với thần ô uế ngoài việc yêu cầu nó xuất khỏi con người, cũng như thái độ không trả lời các thượng tế và kỳ mục đối với lời chất vấn về quyền bính của Ngài (Mt 21,23-27 ; Mc 11,27-33 ; Lc 20,1-8) : « Ông lầy quyền nào mà làm các điều ấy ? Ai đã cho ông quyền ấy ? » cho thấy quyền bính thuộc Thiên Chúa. Quyền bính là uy quyền của Ngài.

Từ đây, chúng ta hiểu được một trong những khía cạnh của đức tin : nó không chỉ là việc tin hay đặt niềm tin tưởng, mà còn là sự vâng phục (x. Rm 16,26). Nhà thần học người Đức, Dietrich BONHNOEFFER, khai triển chủ đề này một cách sâu xa trong tác phẩm : Nachfolge (bản dịch tiếng Pháp, Vivre en disciple : le prix de la grâce. Tạm dịch : Sống môn đệ Chúa Giê-su : cái giá của ân sủng). Quả thực, lời đáp trả của thánh Phê-rô trước Thượng Hội Đồng Do Thái : « Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm » (Cv 5,29) đã cho chúng ta hiểu về sự vâng phục đức tin này. Đức tin đòi hỏi sự vâng phục nơi người tín hữu đối với Thiên Chúa : lắng nghe và thực thi Lời Chúa cũng như nhìn nhận và yêu mến uy quyền của Ngài.

Pet. Trần Văn Khuê, aa



[1] Theo bản dịch Kinh Thánh, Lời Chúa cho mọi người, NXB Tôn giáo, 2006.
[2] Risto SAARINEN, Autorité (quyền bính), in Dictionnaire critique de théologie, Jean-Yves Lacoste chủ biên, PUF, 1998.

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng


Tin Mừng Chúa Nhật III thường niên năm B


Thánh Mác-cô ghi lại lời này của Chúa Giê-su khi bắt đầu sứ vụ công khai, và đặt gần như là lời mở đầu của Tin Mừng theo thánh sử. « Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng », như vậy có ý nghĩa gì ?

Nhìn vào bối cảnh Tin Mừng chúng ta biết được rằng lời kêu gọi này trước hết nhắm tới người Do-thái là đối tượng mà Chúa Giê-su gặp gỡ trước tiên : « Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa » (Mc 1,14). Tuy nhiên, cũng giống như các bản văn Tân Ước khác, Tin Mừng theo thánh Mác-cô được viết khi các cộng đoàn Ki-tô hữu đã dần được hình thành. Lời này phải chăng cũng nhắm tới các Ki-tô hữu, hay hơn nữa những người đang tiếp cận Tin Mừng ?

Không khó để nhận thấy hai khía cạnh của lời mời gọi của Chúa Giê-su : « sám hối » và « tin vào Tin Mừng ». Sám hối là gì và tin vào Tin Mừng là gì ? Và tại sao « hãy sám hối và tin vào Tin Mừng » ?

Trước hết, sám hối là hành vi con người hối lỗi : « cảm thấy đau buồn, chán ghét tội đã phạm và quyết chí chừa cải »[1]. Như vậy, sám hối mà Chúa Giê-su kêu gọi là một sự thay đổi tận căn. Đó không phải là một sự chuyển dịch : từ vị trí này sang vị trị khác, mà là một sự tìm về với thiện căn của mình.

Tiếp đến, « tin vào Tin Mừng ». Tin Mừng là toàn bộ lời rao giảng và giáo huấn của Chúa Giê-su cũng như hành động của Ngài nhằm chữa lành con người. Nhưng, Tin Mừng còn là chính Chúa Giê-su. Chúng ta biết Tin Mừng đầu tiên được loan báo (Kéryme) như thánh Phao-lô viết : “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, và nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích. Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là : Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1Cr 15,3-4). Đó cũng là những gì mà thánh Phêrô đã trình bày trong bài giảng đầu tiên cho dân chúng sau biến cố Lễ Ngũ Tuần (x. Cv 2,22-24). Quả thật, xuyên suốt từ đầu cho đến kết thúc, bốn cuốn Tin Mừng minh định : Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, đặc biệt là cách trình bày của Tin Mừng theo thánh Gio-an. “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

Từ những tình tiết trên đây, chúng ta có thể hiểu được phần nào thông điệp chính yếu nơi lời mời gọi của Chúa Giê-su trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta được nghe trong Chúa Nhật III thường niên (Năm B). Một sự tương tác nội tại giữa hai hành vi con người : sám hối và tin vào Tin Mừng. Cần phải sám hối để có thể đón nhận Tin Mừng. Không thể tiếp nhận Thiên Chúa khi con người đang theo đuổi mục tiêu cá nhân đầy nham nhở, và nếu có thì cũng chỉ là một sự tiếp cận hời hợt. Điều mà ân sủng cần đến là sự tự do con người. Mặt khác, “tin vào Tin Mừng” – đón nhận chính Chúa Giê-su làm thay đổi tận căn như trường hợp của Gia-kêu hay Mát-thêu trong Tin Mừng. Như vậy, sám hối và tin vào Tin Mừng chính là đời sống của người Ki-tô hữu.

Pet. Trần Văn Khuê, aa



[1] x. Từ điển Công giáo, Sám hối, NXB TG, 2016, tr. 742.

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN


Khi các Tông đồ xin Chúa Giêsu tăng thêm ơn đức tin : “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”, Chúa trả lời họ : “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này : hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (x. Lc 17,5-6). Hình ảnh trong cuộc đối thoại này gợi nhớ cho ta câu chuyện dụ ngôn khác : “Dụ ngôn hạt cải”, mà Chúa Giêsu dùng để nói về Nước Trời. Cả ba cuốn Tin Mừng Nhất lãm trình thuật lời của Chúa Giêsu như sau : “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được” (x. Lc 13,18-19 ; Mt 13,31-32 ; Mc 4,30-32).

Đức tin được trình bày trong giáo lý và thần học Công giáo dựa trên Lời Chúa là ơn siêu nhiên mà Thiên Chúa ban để con người có thể nhận biết Ngài. Nói cách khác, con người biết Thiên Chúa qua mạc khải của Ngài – sự tỏ mình ra của Thiên Chúa cho con người, như lời của Thánh vịnh : “Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng” (Tv 26,10). Ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi mọi người qua Ngôi Lời nhập thể là Đức Giêsu Kitô (Ga 1,9). Hay còn nữa, Chúa Giêsu nói với Phêrô : “Này anh Simon, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Chính Thiên Chúa lôi cuốn con người tìm về với Ngài, vì Ngài là cội nguồn của sự thánh thiện và mọi điều thiện hảo.

Mặt khác, đức tin mang cho con người hiệu năng là sự biến đổi. Tính chất biến đổi là làm cho đời sống con người tăng trưởng, như hạt giống được gieo vào lòng đất và sinh hoa kết trái. Đức tin là hạt giống mà Thiên Chúa gieo vào tâm hồn con người. Nhờ hạt giống đức tin này đời sống con người được biến đổi, để rồi con người đức tin sống hoàn toàn khác trong Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết cho tín hữu thành Thêxalônica : “Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1Tx 4,13). Niềm hy vọng đó chính là tin vào Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô là Đấng mà Chúa Cha sai đến với nhân loại.

Hôm nay chúng ta nói tới khủng khoảng niềm tin. Niềm tin này trước hết là tin vào Thiên Chúa. Nhiều người không còn tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn năng và an bài mọi sự trong trời đất cũng như là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo và tình yêu. Khuynh hướng này kéo theo khủng khoảng niềm tin con người. Con người đánh mất ý tưởng sống chung và khả năng cùng nhau xây dựng thế giới quy hướng về Chân-Thiện-Mỹ. Đó cũng là lý do mà Công đồng Vaticanô II đưa ra nhận định sâu sắc về mâu thuẫn của con người hôm nay : “Khi tìm cách đi sâu hơn vào thâm tâm mình, con người nhiều khi lại cảm thấy hoang mang hơn về chính mình. Khi dò dẫm tìm hiểu sâu rộng hơn những luật lệ của đời sống xã hội, con người lại do dự không dám định đoạt hướng đi cho mình” (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 4).

Hạt giống đức tin là cốt lõi của đời sống con người. Dù con người là ai đi nữa thì đức tin là ân sủng Thiên Chúa làm cho đời sống con người trở nên “phong phú về mọi phương diện” (x. 1Cr 1,5). Nhờ đức tin con người sống hy vọng, khả năng đối diện với thử thách, biết sống quảng đại, sẳn sàng hòa giải. Cũng vậy, nhờ đức tin mà con người dám chắc về sự sống chiến thắng sự chết. Hạt giống đức tin đưa con người tới chân trời tương lai, nơi đó không phải là thế giới ảo vọng nhưng là sự viên mãn của đời sống. 


Trần Văn Khuê 

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

CHÚT TẤM LÒNG


Ngoại trừ ít khác biệt trong Tin Mừng theo thánh Gioan, các tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều trình bày về việc “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều” với tình tiết : “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương”, “các môn đệ đến gần Người và thưa : “Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn. Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua thức ăn”, “Đức Giêsu đáp : “Thì anh em cho họ ăn”, “các môn đệ đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá” (x. Mt 14,13-21 ; Mc 6,30-44 ; Lc 9,10-17).

Cũng giống như nhiều đoạn Tin Mừng khác, trình thuật về “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều” chứa đựng đầy ẩn ý, cho dù thánh Gioan giải thích : “Người nói như thế [“Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”] là để thử ông [Philípphê], chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi (x. Ga 6,1-14). Phải chăng Chúa Giêsu đang thử thách các môn đệ về việc sử dụng quyền bính ? Bởi lẽ, đoạn Tin Mừng này được đặt trong bối cảnh : “Các Tông đồ tụ họp chung quanh Đức Giêsu, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy” (x. Mc 6,30), trước khi “đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người”. Hay, Chúa Giêsu lại muốn biết mức độ tin tưởng của môn đệ vào quyền năng của Thiên Chúa nơi Người như thế nào ? Câu hỏi thứ hai này liên quan tới đoạn tiếp theo của Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Máccô và Gioan : “Đức Giêsu đi trên mặt nước” (x. Mt 14,22-32 ; Mc 6,45-52 ; Ga 6,16-21). Ngoại trừ Tin Mừng theo thánh Luca nói về việc tuyên xưng đức tin của Phêrô (x. Lc 9,18-21).

Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa trên theo trình thuật của Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa cần một tấm lòng nơi con người qua phép lạ “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều”. Nhiều người vẫn tự hỏi Thiên Chúa còn làm dấu lạ nữa hay chăng trong đời sống nhân loại hôm nay, khi mà xem chừng Thiên Chúa vắng bóng trong mọi biến cố con người ? Con người không còn khả năng nhìn thấy điều kỳ diệu hay Thiên Chúa không còn đủ khả năng để can thiệp vào đời sống con người ? Các câu hỏi này không thể làm giảm tính chất nền tảng là Thiên Chúa không thể ban thêm cho con người đặc ân, không phải vì Ngài hẹp hòi, nhưng vì lòng ích kỷ của con người không còn chỗ cho sự quảng đại. Năm chiếc bánh và hai con cá là biểu tượng cho chút tấm lòng rộng mở. Chính chút tấm lòng này mở cánh cửa đưa đến sự sống viên mãn được Thiên Chúa đổ đầy.

Chút tấm lòng mang tính Tin Mừng, nhưng còn là phẩm chất đầy tính nhân văn. Sự khép kín hay tính toán quá đáng con người đang làm cho vẻ đẹp của nhân loại bị lu mờ và hoen úa. Cứu cánh con người là tìm kiếm những gì cao thượng có khả năng nâng đời sống con người lên trên mọi sự thấp hèn trần tục. Con người không chỉ được sinh ra cho thể xác nhưng còn tâm hồn. Chút tấm lòng rộng mở là vẻ đẹp của con người tạo dựng của Đấng tạo hóa.

Cũng vậy, chút tấm lòng mới có khả năng xây dựng nền hòa bình đích thực trong bác ái và sự thật. Bởi lẽ, cõi lòng chật hẹp là nguyên nhân của mọi tranh chấp và đố kỵ, chia rẽ và hận thù. Tấm lòng rộng mở là nhịp cầu nối giữa công lý và hòa bình, như lời cao đẹp của Thánh vịnh 84 :

“Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hòa bình công lý đã giao duyên.
Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao”.

Dẫu cho trong thế giới chúng ta sống kinh nghiệm về “chút tấm lòng” như trăng tàn sao lặn, hay như chiếc lá mùa thu thì nó vẫn mãi là cái nhỏ bé lớn lao làm nên điều kỳ diệu cuộc sống mà Thiên Chúa ban cho con người. Chút tấm lòng mở ra cho muôn người tràn ngập niềm vui : đau khổ được chữa lành, đói khát được no nê, tình yêu được chia sẻ và niềm tin tưởng được củng cố.   


Trần Văn Khuê

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

KHƠI DẬY LÒNG YÊU MẾN HIỂU BIẾT

Triết gia người Đức, Emmanuel Kant, cho rằng mọi hoạt động nhân loại hệ tại ở việc giáo dục : sự phát triển con người, xã hội và thăng tiến đời sống khởi đi từ việc giáo dục[1]. Tuy nhiên, giáo dục là một tiến trình lâu dài theo trật tự mang tính sư phạm. Chính vì thế, sự lắp ghép nhiều mảng rời rạc trong hệ thống giáo dục và giải pháp tình thế đưa đến kết quả tiêu cực. Giáo dục mang tính tổng thể bao trùm toàn bộ mọi giai đoạn phát triển con người thể chất và trí tuệ cũng như bối cảnh đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa và tôn giáo. Giáo dục bắt đầu từ nền tảng sơ khởi. Bước khởi đầu là khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết.

Lòng yêu mến hiểu biết như mảnh đất được vun xới và chăm bón để đón nhận hạt giống gieo vào lòng nó. Hạt giống của lời khôn ngoan chỉ có thể nẩy mầm và phát triển nếu nó bắt gặp được mảnh đất tươi tốt. Điều này đã được Chúa Giêsu giảng dạy nơi câu chuyện dụ ngôn về người gieo giống trong Phúc Âm[2], cũng như hiểu biết của chúng ta từ kinh nghiệm ít hay nhiều của mọi người. Vun xới cho lòng yêu mến hiểu biết trở nên màu mỡ là bước khởi đầu cho giáo dục. Công việc này đòi hỏi sự kiên trì và ý chí của người làm vườn. Bởi lẽ, có mảnh đất đòi hỏi nhiều thời gian để gạt bỏ dần sỏi đá, gai góc và cần được vun xới nhiều. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết chính là làm cho tâm hôn trở nên tươi tốt để đón nhận sự khôn ngoan và hiểu biết điều thiện.

Lòng yêu mến hiểu biết là thái độ sẳn sàng đón nhận trong lắng nghe và hướng về Chân-Thiện-Mỹ. Câu ngạn ngữ của người Tây phương : “On ne saurait faire boire un âne s’il n’a pas soif”  - người ta không thể cho con lừa không khát uống nước. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là làm cho khát vọng tìm kiếm sự khôn ngoan lớn lên trong lòng con người. Nó tạo dựng nền móng tinh thần cho việc đối thoại và hoán cải nội tâm. Quả thật, người ta khó có khả năng đối thoại với nhau và hoán cải vì thiếu lòng yêu mến hiểu biết. Sự khép kín hoặc bị giam hãm trong giáo điều có nguy cơ làm cho tâm hồn trở nên khô cằn, sỏi đá và gai góc.

Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là nền tảng căn bản của giáo dục và con đường nhân bản hóa con người. Nó mở đường cho con người tới thế giới, nơi đó đòi hỏi con người rộng mở tâm hồn. Đây là tiến trình xây dựng nhân cách và giúp con người cởi mở với thế giới bên ngoài. Sự co cụm trong thế giới chủ quan là ngục tù của tâm hồn. Điều gây nguy hiểm cho thế giới chính là con người đánh mất sự vươn cao tinh thần, tìm kiếm hiểu biết và trải rộng lòng nhân ái. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là đưa con người tới hoàn thiện đời sống với chiều kích : tinh thần, trí tuệ và nhân bản.

Trần Văn Khuê



[1] Emmanuel Kant, Traité de pédagogie.
[2] X. Mt 13, 1-9 ; Mc 4, 1-20 ; Lc 8, 4-8.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

HẠNH PHÚC LÀM NGƯỜI KITÔ HỮU


Hạnh phúc là chủ đề suy tư lớn nhất về cuộc sống con người nơi nhiều dòng tư tưởng. Người ta đồng ý với nhau rằng hạnh phúc là mục tiêu tối hậu của con người trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Tuy nhiên, hạnh phúc là gì thì vẫn mãi là vấn đề tranh cãi. Chính Aristote, triết gia cổ Hy Lạp, có nhiều suy tư về hạnh phúc, trong tác phẩm của ông : “Ethique à Nicomaque”, cũng phải thừa nhận : hạnh phúc chỉ mang tính tương đối. Bởi lẽ, hạnh phúc là cái nhà hay chiếc xe, hạnh phúc là sức khỏe hay sắc đẹp, hạnh phúc là công danh sự nghiệp hay cuộc sống bình dị, ….? Tất cả tùy thuộc nơi con người riêng biệt và vào hoàn cảnh đặc biệt.

Từ cảm nghiệm và chia sẻ thì một trong những hạnh phúc lớn nhất là làm người Kitô hữu. Đó không phải vì Kitô giáo là nguồn xuất phát của nhiều lễ hội, nhưng trước hết, Kitô giáo đưa con người hòa quyện vào giữa Trời và Đất. Quả thật, qua công trình tạo dựng, Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại và làm thành với lịch sử con người, bởi vì “không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (x. Ga 1, 3). Vũ trụ là nơi vạn vật sinh sống và cũng là nơi Thiên Chúa cư ngụ. Hơn nữa, Thiên Chúa còn tự mặc lấy cho mình dung mạo con người nơi Mầu nhiệm Nhập thể : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (x. Ga 1, 14). Con người được trở nên hoàn hảo nơi việc Trời - Đất giao duyên.

Kitô giáo còn giúp con người chân nhận phẩm giá vốn có của chính mình. Phẩm giá này không phải được ban phát hay tự quyết bởi bất cứ ai, ngoài Đấng là Nguồn mạch sự sống : “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (x. Ga 1, 16). Phẩm giá lớn lao nhất là con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, mang nơi mình chiều kích thánh thiêng bất khả xâm phạm, khả năng lý trí để nhận biết giá trị siêu việt cũng như khả năng phân biệt thiện ác qua tiếng nói lương tâm và tự do chọn lựa có trách nhiệm, như trình bày của Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng. Con người vì thế không chỉ nhỏ bé nơi thân phận phàm nhân, nhưng còn lớn lao trong tước vị làm con Thiên Chúa.

Hơn nữa, Kitô giáo, qua ánh sáng Lời Chúa, chỉ cho con người con đường đạt tới hạnh phúc. Con đường này là con đường nội tâm được mô tả một phần trong Tám Mối Phúc :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5, 3-10).

Ý nghĩa lược diễn từ Tám Mối Phúc này : cần có tâm hồn nghèo khó để đón nhận ; sống hiền lành nhằm chung hưởng Đất Hứa ; trải nghiệm sầu khổ để cho người được hỷ hoan ; nên người công chính cho cuộc sống tròn đầy ; xót thương cho con người được yêu mến ; với tâm hồn trong sạch để nhìn thấy mọi sự thiện hảo ; xây dựng hòa bình vì đó là Nước Thiên Chúa ; và can đảm sống công chính, vì là con đường dẫn tới sự sống muôn đời.

Hẳn tôi và bạn, chúng ta hạnh phúc là người Kitô hữu.


Trần Văn Khuê

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

CHÈO RA CHỖ NƯỚC SÂU MÀ THẢ LƯỚI

(Hình ảnh : Biển hồ Ga-li-lê)

Chúa Giêsu mời gọi thánh Phêrô “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”, và Người cũng mời gọi tất cả chúng ta đi xuống dưới dáng vẻ bên ngoài để thể hiện một cuộc sống thâm trầm hơn, có ý thức và có ý nghĩa hơn. Nếu bạn đáp lại lời mời gọi ấy, thì đâu là đòi hỏi cụ thể mà bạn phải thực hiện trong cuộc sống mỗi ngày ? Nơi bản thân, đâu là chỗ mà bạn cảm thấy có sự kháng cự làm bạn khước từ lời mời gọi “đi xuống sâu hơn” ?

Qua trình thuật về câu chuyện kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Lc 5, 1 - 9), thánh sử Luca đã chuyển tải lời mời gọi của Chúa Giêsu một cách sinh động, khi Người bảo các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Qua đó, Người cũng đảm bảo rằng, bất cứ điều gì chúng ta khám phá được nơi bản thân mình, đều có thể được biến đổi nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Sau một đêm vất vả luống công và chán nản, Phêrô cùng với bạn chài đang giặt lưới và chuẩn bị nghỉ việc. Bỗng Chúa Giêsu xuất hiện và giảng dạy cho dân chúng. Vì dân chúng chen lấn muốn đến gần Người, nên Chúa Giêsu xuống thuyền của Phêrô và xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Sau đó, Người bảo ông “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Thoạt tiên ông chống cự lại lời yêu cầu của Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được gì”. Nhưng, cuối cùng Phêrô dịu lại và thưa : “...Nếu Thầy đã nói thế thì tôi sẽ thả lưới”. Họ đã bắt được rất nhiều cá, hầu như rách cả lưới. Họ gọi bạn chài mang thuyền đến giúp và đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

Việc Chúa Giêsu chỉ dạy các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới có thể được xem như hành động mời gọi chúng ta nhận biết mình và đi vào đời sống nội tâm. Sự phản kháng của Phêrô cũng phản ánh thái độ miễn cưỡng và lo sợ mà chúng ta cảm nghiệm, khi chúng ta được kêu gọi rời bỏ cuộc sống hời hợt để đi vào trong con người thâm sâu của mình. Chúng ta lo lắng không biết mình sẽ gặp thấy gì trong cõi thâm sâu. Chúng ta tự nhủ, liệu những gì chúng ta gặt hái được có đáng để phấn đấu và chấp nhận đau đớn có thể xảy ra không. Sau mẻ cá kỳ diệu, Phêrô đã run sợ sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và nói : “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Cũng vậy, con người phản kháng và lo sợ của chúng ta cần nghe lời trấn an của Chúa Giêsu : “Đừng sợ ! Từ nay con sẽ là người đi thu phục người ta”. Qua lời trấn an đó, chúng ta có thể nghe Chúa Giêsu Phục Sinh nói rằng : “Đừng sợ! Thầy sẽ ở với anh em. Tất cả những gì anh em tìm thấy nơi đáy lòng mình, Thầy sẽ sử dụng để làm lợi cho anh em”. Là môn đệ Chúa Giêsu trong thời đại hôm nay, chúng ta cũng được Người cam đoan : nếu chúng ta phát huy việc nhận biết mình và sự toàn vẹn, thì qua con người trọn vẹn của chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta bắt được một mẻ cá lớn nhằm nuôi dưỡng bản thân mình cũng như cho người khác.

Sử dụng một hình ảnh khác trong Tin Mừng, chúng ta có thể nói rằng, Linh đạo Kitô giáo là một hành trình băng qua cánh đồng là chính con người chúng ta, để khám phá ra kho báu đã được chôn giấu trong đó. Kho báu là nơi Thiên Chúa hiện diện, như Chúa Giêsu đã nói : “Nước Trời giống như một kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi đi bán tất cả...mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13, 44). Hành trình nội tâm là chuyến đi vất vả, băng qua nhiều lớp ý thức của tinh thần. Hành trình này làm chúng ta hoảng sợ, bởi vì phải đối phó với một địa hình mà chúng ta chưa biết. Cha Gerard Hugles, tu sĩ dòng Tên, quả quyết rằng : “Hành trình này luôn luôn bao gồm sự nghi nan, đau khổ và bối rối nhất định. Cảm xúc tiêu cực ấy là lực đẩy nhẹ nhàng của Thiên Chúa”. Tin tưởng vào sự nâng đỡ đầy yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta có thể tiếp tục lên đường ; đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu mà đi xuống sâu hơn, và chúng ta sẽ ngỡ ngàng khi khám phá được Nước Thiên Chúa đang ở trong lòng chúng ta.


E. Trúc Giang, spc

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

ĐIỀU KÌ DIỆU

Có lúc ta cầu mong điều kì diệu đến, nhưng nó không xảy ra. Có khi ta mơ màng về một chương trình vĩ đại mong được thực hiện như : tư tưởng, sáng kiến hay một chân trời mới, nhưng đều bất thể. Điều kì diệu đối với ta nhiều lúc quá xa vời vợi và quá cao chót vót. Điều kì diệu trong tâm tưởng mãi là điều kì diệu siêu thực.

Điều kì diệu đích thực trái với khuynh hướng siêu tưởng. Nó gắn liền với thực thể sống, vì nó là cuộc sống. Sự sống là điều kì diệu trước tiên và ai đang cố gắng thăng tiến đời sống là thực hiện điều kì diệu trong đời sống. Xã hội chúng ta có quá nhiều giả thiết. Lắm lúc chúng làm cho con người sống trong ảo giác và dẫn đưa con người tìm kiếm điều siêu thực. Điều làm cho con người tách lìa với thực tại trần thế không phải là việc người ta đi tìm giá trị siêu việt hay đối với tín hữu đó là đi tìm Thiên Chúa, nhưng chính việc con người biến thực tại thành thế giới kì ảo : nơi đó người ta không còn có thể chân nhận dung mạo của con người đích thực và ý nghĩa cuộc sống cũng như điều kì diệu trong nó.

Điều kì diệu được bộc lộ nơi tấm lòng : nó là sự phản chiếu của điều kì diệu. Quả thật, chúng ta ngưỡng mộ tấm lòng không vị kỷ và con người dấn thân vô vị lợi. Câu chuyện về ai đó dám hy sinh đời sống mình vì người khác qua tiếng nói và hành động đọng lại nơi chúng ta hình ảnh của điều kì diệu. Nó sống mãi cách sống động trong ký ức con người. Nó không cần sự đánh bóng để tồn tại và tỏa sáng. Trái lại, nó mang giai điệu âm vang sâu lắng trong tĩnh lặng. Tiếng nói của điều kì diệu nhỏ nhẹ và dịu dàng. Chỉ ai có trái tim nhạy cảm biết lắng nghe mới nhận ra điều kì diệu.

Điều kì diệu còn trở nên mộc mạc và đơn sơ. Nơi nó không có mưu toan. Nụ cười của tấm lòng chân thật rạng rỡ hơn bất cứ gì. Con người kì diệu sẵn sàng cho đi tất cả chỉ vì tình yêu. Phần lớn điều kì diệu tiềm ẩn nơi con người tầm thường. Họ tầm thường đến mức mà tính tầm thường nơi họ trở nên điều kì diệu : đáng ngưỡng mộ. Sự cách biệt giữa con người là điều kì diệu được cất dấu. Sự mộc mạc không phải là thứ làm lóa mắt con người, nhưng làm trái tim rung động. Nó không đánh tráo và gian lận. Nó không khoa trương và cường điệu. Nó là thực tại ít được phát hiện, nhưng nó được cảm nhận bằng trái tim biết nhìn thấy.  

Đi tìm điều kì diệu, chúng ta đến với cuộc sống mà nơi đó chúng ta bắt gặp con người. Con người tầm thường, nhưng ẩn chứa điều kì diệu. Chính Thiên Chúa kì diệu đã ẩn dấu nơi con người và trở nên như mọi người. Hơn nữa, con người Giêsu đã sống ẩn dật trong suốt phần lớn thời gian của cuộc đời trần thế. Thời gian rao giảng của Người đầy sóng gió và ngập tràn sự chống đối. Cái chết là đoạn kết bi kịch nói lên sự bị loại bỏ. Thế nhưng, ai được ơn nhận biết nhìn thấy điều kì diệu của Thiên Chúa được bộc lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Chính Người trở thành nguồn sống cho mọi tín hữu xác tín. Để rồi, với dáng vẻ bề ngoài nghèo hèn họ là người cất dấu kho tàng điều kì diệu của Thiên Chúa nơi mình.


Trần Văn Khuê

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

NIỀM VUI NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU

Trong một bài viết trước đây tôi nói về việc trở thành Ki-tô hữu hôm nay : người Ki-tô hữu sống xác tín, có khả năng đối diện với thách đố văn hóa mới, xây dựng “thế giới nhân bản” (x. http://saokhue-saokhue.blogspot.com/2011/05/tro-thanh-ki-to-huu-hom-nay.html). Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chưa đề cập đến con đường sống lý tưởng Ki-tô giáo lại là con đường đầy chông gai và thử thách. Phần thưởng dành cho ai yêu mến Chúa là sự đau khổ như kinh nghiệm của thánh nữ Tê-rê-xa Giê-su thành A-vi-la. Đau khổ này không thuộc bản chất Ki-tô giáo, nhưng là thứ đau khổ mà như Chúa Giê-su nói : “Vì danh Thầy anh em sẽ bị thù ghét” (x. Mt 10, 22).

Sống nơi vùng đất mang đậm dấu ấn từ con người khởi xướng phong trào cộng sản tôi gặp gỡ một số cụ ông cụ bà ở tuổi 80, 90 và cao hơn nữa, hồi tưởng về cuộc sống của người Công giáo trong giai đoạn chiến tranh – lúc mà người ta biến người nông dân chân lấm tay bùn thành người cộng sản giáo điều : sống cựa quyền và thi hành mệnh lệnh cách máy móc. Đôi mắt của các cụ long lanh khi kể nhiều câu chuyện buồn lịch sử. Chuyện của các cụ là chuỗi dài sự kiện nối tiếp nhau : từ chuyện vật chất tới con nguời. Có câu chuyện như qua một đêm con bò con trâu của nhà mình bổng chốc thành vật sử hữu của người khác, hay là lúa mới từ ngoài đồng về tới sân đã thuộc về người ta. Gia sản gia đình lần lượt ra đi vì cưỡng bức. Cái còn lại duy nhất là sự “câm lặng” và “lầm lũi”. Tất cả chỉ vì “ta là người có đạo”.

Tuy nhiên, hôm nay tôi vẫn thấy trên gương mặt của các cụ toát lên nét tinh thần thanh thoát và thấm đượm nơi tâm hồn lòng nhân ái : không hận thù và cũng không gian ngoa, nhưng là sự điềm đạm và lòng quảng đại. Toàn thân con người bộc lộ sự bình an tự tại và tâm trí biểu lộ lòng tin tưởng vững vàng vào Thiên Chúa quan phòng và tình yêu của Ngài. Các cụ nói chuyện với tất cả niềm xác tín sâu xa : “Có Chúa”, và không quên thêm vào câu nhấn : “con đã thấy như thế”. Tôi thật sự ngưỡng mộ tâm hồn tươi trẻ và tràn đầy sức sống nơi con người da nhăn, má hóp và lưng còm. Họ đích thực là người môn đệ mà Chúa Giê-su yêu mến. Niềm vui của họ cũng là niềm vui của người môn đệ đã sống và cảm nghiệm Thiên Chúa hiện hữu trong đời sống.

Trở thành Ki-tô hữu chúng ta không đi tìm sự đau khổ và cả cái chết. Tuy nhiên, trong đau khổ người môn đệ cảm nghiệm lời chúc phúc và lời hứa của Chúa Giê-su : “Phúc cho ai chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 10). Niềm vui của người môn đệ Chúa Giê-su là niềm vui Phúc Âm : niềm vui tình yêu, niềm vui tha thứ và niềm vui sống đời sống công chính. Niềm vui này loan báo Nước Trời – nơi đó không còn hận thù, chiến tranh, thái độ cực đoan giáo điều, nhưng là “bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (x. Rm 14, 17).

Niềm vui Phúc Âm của người môn đệ Chúa Giê-su là niềm vui hòa giải. Nó không phải là thứ thỏa hiệp theo phương châm : “Dĩ hòa vi quý”, hay chấp nhận tính tương đối về một lý tưởng sống hoặc ý thức hệ. Nhưng, đó là cung cách sống biểu lộ tinh thần quảng đại và vị tha. Thái độ sống này làm cho người môn đệ Chúa Giê-su có được tinh thần thanh thoát và niềm vui tràn đầy phát xuất từ tâm hồn của con người nội tâm.


Trần Văn Khuê