Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

GIÁO HỘI MÀ ĐỨC GIÁO HOÀNG PHAN-XI-CÔ MONG MUỐN

Tôi xin giới thiệu cùng các bạn và quý vị bài viết của ISABELLE DE GAULMYN, MARTINE DE SAUTO ET AGNÈS CHARETON, phóng viên của tờ nhật báo Công giáo La Croix : “L’Eglise que veut le pape François”, ngày 30 tháng 07 năm 2013.


Giáo Hội đồng hành

Từ lúc đặt chân tới Bra-xin, ngày 21 tháng 07, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô trau chuốt cách thức chào các giám mục thuộc những “Giáo hội đặc biệt”. Cách thể hiện này mang ý nghĩa như ngài đến với tư cách Giám mục thành Rô-ma, được mời đến trong giáo phận của các giám mục khác, không giống như vai trò người đứng đầu của Giáo Hội hoàn vũ đến để giải quyết “công việc”. Ngài chọn cách gọi “anh em” giám mục đối với các giám mục Bra-xin, cũng như tất cả giám mục thuộc châu Mỹ La-tinh. Cách gọi này nhấn mạnh chiều kích đối thoại hơn là diễn từ mang nghĩa ex-cathedra (huấn quyền đặc biệt của giáo hoàng). Bằng chứng là ngài lắng nghe các chứng từ, chất vấn và đề nghị đến từ các giám mục.

Thái độ này phản chiếu quan điểm về quản trị Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô từ lúc ngài lên ngôi. Mặt khác, giáo hoàng được Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến chế Ánh sáng Muôn dân (Lumen Gentium), định nghĩa là người “đứng đầu” ở giữa anh em giám mục khác : ngài giữ vị trí hàng đầu trong giám mục đoàn – đảm nhận chung việc quản trị Giáo Hội. Giáo hoàng không tự ý quyết định cách độc đoán.

Theo nghĩa “đoàn”, Giáo Hội là nơi thảo luận và quyết định chung. Tại Rio, Đức Giáo Hoàng mong muốn cách rõ ràng tính cộng đoàn được biểu lộ ở cấp bậc hội đồng giám mục quốc gia hay châu lục, các cấp miền có thẩm quyền quyết định. Quan điểm này hình như không đồng nhất với các vị tiền nhiệm vì lo ngại làm chồng chéo vai trò giám mục và giáo hoàng.

Tính cộng đoàn còn mang nghĩa làm việc chung với nhau. Nhớ lại phương pháp làm việc của khóa họp hội đồng giám mục Aparecida vào năm 2007, Đức Giáo Hoàng truyền lại kinh nghiệm cho các giám mục châu Mỹ La-tinh : không soạn thảo trước các tài liệu qua đó người ta sẽ rà xét lại, nhưng các văn bản được hình thành theo tiến trình làm việc và thảo luận chung, “từ đúc kết về những quan tâm khác nhau của các mục tử”. Đó là cách mà Đức Giáo Hoàng đang dần thực hiện tại Rô-ma : thiết lập nhóm các giám mục làm việc chung.

Trong đường hướng này, Đức Giáo Hoàng yêu cầu “tính cộng đoàn” được thể hiện ở mọi cấp độ của Giáo Hội : hội đồng tư vấn giáo phận, giáo xứ, trong lãnh vực mục vụ cũng như kinh tế. Hội đồng tư vấn phải trở thành nơi “tham dự của giáo dân trong vai trò tham vấn, tổ chức và hoạch định mục vụ”. Ngài thừa nhận : “Tôi tin rằng chúng ta đang đi sau trong vấn đề này”.

Dưới cái nhìn của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, tính cộng đoàn tự bản chất không phải là nguyên lý, nhưng là điều kiện trong công cuộc loan báo Tin Mừng : tổ chức Giáo Hội phải phục vụ “dân Thiên Chúa trong tổng thể”. Không phải với các cơ cấu mà Giáo Hội đảm bảo sự hiệp thông giữa mọi thành phần. Sứ vụ mới là yếu tố hàng đầu : các “viên chức mục vụ” của Giáo Hội và tín hữu nói chung phải cảm thức “thuộc về Giáo Hội”, đồng hóa với Giáo Hội và làm cho Giáo Hội trở nên gần gũi hơn với những ai xa rời Giáo Hội.

Giáo Hội ít giáo điều hơn

Trong bài diễn văn đọc tại “comité de coordination du Conseil épiscopal latino-américain” (Ủy ban điều phối Hội đồng tư vấn giám mục châu Mỹ La-tinh), ngày 27 tháng 07, Đức Giáo Hoàng cảnh báo nguy cơ đe dọa “môn đệ truyền giáo” trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

Nguy cơ trước tiên là “tư tưởng hóa” thông điệp Tin Mừng dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngài nêu lên cách đặc biệt nguy cơ “rút gọn mang chiều kích xã hội học” : “tham vọng chú giải theo cái nhìn khoa học xã hội” ; “tư tưởng hóa chiều kích tâm lý” : rút ngắn sự gặp gỡ với Đức Giê-su và tiến trình của cuộc gặp gỡ này về tự nhận thức ; “đề nghị mang tính duy lý trí” : đưa tới “vấn đề tranh cãi về thái độ mục vụ” ; và cuối cùng, giải pháp mang màu sắc của phái Pélage : nhìn lại phía sau và tìm cách lấy lại quá khứ đã qua đi, thái độ “mang tính tĩnh học”. Còn hai thái độ khác đe dọa Giáo Hội : chủ nghĩa chức năng, tìm kiếm trước hết kết quả cuối cùng, “quan tâm tới lộ trình hơn là thực tế của con đường đi” và chủ nghĩa giáo sĩ.

Thomas Guyedier, Giám đốc trung tâm nghiên cứu thần học Caen, nhận định : “Những trình bày của Đức Giáo Hoàng về khuynh hướng tư tưởng hóa thông điệp Tin Mừng rất phổ biến, mời gọi chúng ta đọc lại cách làm mục vụ với sự cảnh giác và kỹ lưỡng. Mỗi khuynh hướng tư tưởng hóa được nêu lên tương ứng với khuynh hướng của từng thế hệ, và việc tránh rơi vào một trong những khuynh hướng trên cũng là cách để làm hòa hợp các thế hệ. Đức Giáo Hoàng chỉ điểm cách đặc biệt thực tế hầu như có mặt khắp nơi trong các giáo phận chúng ta hôm nay, liên hệ đặc biệt với thế hệ trung gian chịu ảnh hưởng bởi trào lưu phong trào đặc sủng mới, khuynh hướng duy tâm linh. Viện cớ để tránh sai lầm mà thế hệ trước đây để một bên chiều kích tâm linh trong đời sống dấn thân hoàn toàn bị nhấn chìm bởi lịch sử, nguy cơ hôm nay là bỏ rơi mối tương quan với thế giới trong đời sống Ki-tô hữu tách lìa những thực tại kinh tế và xã hội. Hôm nay chúng ta có khuynh hướng phát triển thứ mục vụ kỷ luật, chứ không phải là truyền giáo, bỏ qua ý nghĩa theo Đức Ki-tô không chỉ ưu tư về nhà nguyện, nhưng còn và trên hết trong việc phục vụ nhân phẩm trong lòng xã hội, chủ đề được khai triển trong Thông điệp Ánh sáng Đức tin (Lumen fidei).

Theo nhà thần học này, vấn đề việc làm, được Đức Giáo Hoàng nêu lên với các bạn trẻ tại Rio, là lãnh vực trung tâm. “Từ đây, đời sống Giáo Hội, được thúc đẩy bởi lý tưởng Hoạt động Công giáo, dấn thân hoàn toàn trọn vẹn trong lãnh vực này. Hôm nay, ngay cả khi một số nhóm, phong trào mang nơi mình ưu tư đi vào thế giới, nhưng ghi nhận cho thấy chúng ta có khuynh hướng đi ra khỏi những vấn đề nhân sinh, để lợi ích “gặp gỡ Đức Giê-su Ki-tô” được trải rộng trong công việc tông đồ mà Công đồng Va-ti-ca-nô II nói tới. Chúng ta trở thành chuyên gia trong nguyên cứu, trong nội quan, nhưng làm sao chúng ta có thể chắp nối với thế giới lao động ?”

Giáo Hội cởi mở với từng người

Không ngại sử dụng từ “quyến rũ” để nói trước các giám mục Bra-xin hay thành ngữ “khôn lanh Tin Mừng” trước toàn dân châu Mỹ La-tinh, Đức Giá Hoàng Phan-xi-cô biện hộ cho một Giáo Hội “mục vụ” hơn, biết đón nhận hơn là phán xét như trong vấn đề đồng tính mà ngài đã trả lời cho giới báo chí trên đường từ Bra-xin về Rô-ma. Viễn cảnh mục vụ mang tư tưởng của thánh I-nha-xi-ô, nghĩa là đến với con người trong hoàn cảnh mà họ đang sống chứ không phải từ thứ luân lý tiên nghiệm. Đó là những gì mà ngài đã trình bày : “cuộc cách mạng của tình thương mến”.

Nền tảng của thái độ này là “lòng thuơng xót”, một trong những từ mà Đức Giáo Hoàng thường hay sử dụng từ lúc lên ngôi. Giáo Hội không phải là cơ quan phán xét và kỷ luật. Ngài đối lập Giáo Hội của lòng thương xót với Giáo Hội “kiểm soát”, biện hộ cho “Giáo Hội tuyên tín, chứ không phải Giáo Hội rà xét”.

Giáo Hội phải lưu tâm tới những “vấn đề phức hợp nảy sinh” và biết tạo nên nơi và cơ hội biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều đó đòi buộc phải đi trước con người và “không sợ ra đi trong đêm tối” của con người đương đại, “giao thoa con đường của họ”, đối thoại với họ, đi tới những “vành đai hiện sinh”.

Đối với Đức Giáo Hoàng, nhiều tín hữu rời bỏ Giáo Hội Công giáo vì Giáo Hội không biết bắt kịp họ, nơi họ sinh sống. “Khuôn khổ của Đại Giáo Hội đối với họ là quá lớn”. Chính vì thế mà họ bị lôi cuốn bởi phong trào thánh linh của Giáo Hội Tin lành.

Đức Giáo Hoàng nhắc lại trước Ủy ban điều phối Hội đồng tư vấn giám mục châu Mỹ La-timh : “Khung cảnh và tổ chức đa dạng. Ví dụ : trong cùng một thành phố tồn tại các cơ cấu khác nhau hình thành những thành phố khác nhau. […]. Thiên Chúa làm phần trong những sự khác biệt này : cần phải biết khám phá ra Ngài nhằm có thể loan báo Ngài trong mọi nền văn hóa, nơi những thực tại và ngôn ngữ khác nhau”.

Tóm lại, Đức Giáo Hoàng mong muốn Giáo Hội “có khả năng vượt lên trên chỉ việc lắng nghe, nhưng còn biết đồng hành khi trở thành bạn đồng hành của người khác”. Bởi lẽ, Thiên Chúa mạc khải trong lịch sử là Thiên Chúa “gần gũi” với dân, và “đến gặp gỡ dân của Ngài”. Chứ không phải là thứ “mục vụ quy tắc, chỉ biết đặt nặng nguyên lý, chỉ đạo, quy trình tổ chức”.

Giáo Hội nghèo khó và nữ tỳ

Đức Giáo Hoàng nhắc lại trước các bạn trẻ trên toàn thế giới và các giám mục Bra-xin tại Rio những gì mà ngài đã phát biểu vào ngày 16 tháng 03 năm 2013 : “Tôi mong muốn có một Giáo Hội nghèo khó và cho người nghèo”.

Một Giáo Hội nghèo khó không giống như tổ chứ ONG (tổ chức phi chính phủ), nhưng có “khả năng đốt nóng con tim”. Quả thật, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, giáo dục, y tế, ổn định xã hội là “điều cấp thiết của người Bra-xin”, và về vấn đề này Giáo Hội phải cho làm cho người khác nghe tiếng nói của mình. Tuy nhiên, “để đáp trả cách phù hợp những thách đố này, các giải pháp kỹ thuật không đủ, còn phải nhìn thấy con người với tự do và giá trị của nó”.

Đối với cha Philippe Kloeckner, nguyên đặc trách phần châu Mỹ La-tinh của Hội đồng Giám mục Pháp, Đức Giáo Hoàng qua đó cho thấy “ngài không muốn Giáo Hội là cơ quan làm việc cho tổ chức của mình, nhưng phải phục vụ Thiên Chúa và loan báo Tin Mừng”.

Cũng trong diễn văn đọc tại Ủy ban điều phối Hội đồng tư vấn giám mục châu Mỹ La-timh, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đả kích “tâm lý hoàng tử” của một số giám mục và nhắc lại vai trò của mục tử không phải là làm “thầy”, nhưng người “hướng dẫn”. Các giám mục phải biết yêu mến sự “nghèo khó”, “nghèo khó nội tâm trong tinh thần tự do trước Thiên Chúa cũng như nghèo khó bên ngoài trong đời sống giản dị và khắc khổ”.

Đối với Elena Lasida, thuộc Đại học Công giáo Paris, đặc trách về Ủy ban Công lý và Hòa bình : “Ý tưởng về Giáo Hội nghèo khó vượt lên trên tính đơn giản về vật chất”. Giáo Hội phải có khả năng “đi vào trong mối tương quan trao đổi và trở thành bạn đồng hành của người khác”. Đối diện với sự nghèo đói, “Giáo Hội không thể đưa ra tất cả mọi giải pháp có sẵn”.

Giáo Hội lội ngược dòng

“Cha yêu cầu chúng con trở thành nhà cách mạng, lội ngược dòng. Để làm điều đó, cha kêu gọi chúng con đứng lên chống lại thứ văn hóa của cái tạm thời, thứ văn hóa trong sâu xa của nó cho rằng chúng con không có khả năng đảm nhận trách nhiệm, không có khả năng yêu thương thật sự…”. Lời kêu gọi này được gửi đến tình nguyện viên của Đại hội giới trẻ tại Rio. Đối với triết gia Guy Coq, lời “mang tính Tin Mừng cách sâu xa” của Đức Giáo Hoàng trên đây mô tả hình ảnh Ki-tô hữu có khả năng “cự tuyệt” mọi thứ “chủ nghĩa theo phong tục và tập quán”. “Trở thành nhà cách mạng không có nghĩa là phá hủy tất cả. Đó là khả năng chú tâm tới các trào lưu diễn ra trên toàn thế giới, cũng như chúng đang xuyên qua đời sống chúng ta. Chứng tỏ khả năng dấn thân sâu xa và đi ra khỏi thứ văn hóa của cái nơi đây và ngay bây giờ để tìm kiếm ý nghĩa của lịch sử nhân loại và ơn cứu độ”. Lời kêu gọi trở thành nhà cách mạng vượt lên trên ơn gọi cá nhân của từng người. Đức Giáo Hoàng nhắc lại rằng “nó cần phải biến đổi thế giới cách triệt để”. Chúng ta nhận thấy điều đó khi ngài tố giác quyền tuyệt đối của tài chính. Ngôn sứ là người muốn đưa con người ra khỏi triền dốc thảm hại tập thể trong đó họ bị giam hãm. Trong nghĩa này, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô mang nơi mình lời “ngôn sứ” và mang lại ý nghĩa của việc dấn thân cụ thể và đạo đức. Ngài không cho rằng sự đoạn tuyệt là mục đích tối hậu. Ngài tin khả năng hình dung ra một thế giới khác có thể. Ngài lấy lại cái tinh hoa của thần học giải phóng : Ki-tô hữu tìm thấy nơi Tin Mừng đòn bẩy để biến đổi thế giới. Những gì chúng ta tìm thấy nơi vị Giáo Hoàng này không phải là diễn từ mang tính giáo hóa (luân lý), không đóng khung lại trong quan điểm giáo điều hay sơ đồ được thiết lập trước, nhưng là hy vọng.


Trần Văn Khuê, aa, lược dịch

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

DÂN THIÊN CHÚA

Đối với nhiều người, ít nhất là tín hữu thuộc Ki-tô giáo và Do-thái giáo, cụm từ “Dân Thiên Chúa” không mấy xa lạ. Bởi lẽ, nó gợi lại cách gọi mà Thiên Chúa nói với dân tộc Do-thái (Ít-ra-en) trong Cựu ước như “Đức Chúa phán với ông Mô-sê : "Hãy đến gặp Pha-ra-ô và nói với vua ấy : Đức Chúa phán thế này : Hãy thả dân Ta ra, để họ đi thờ phượng Ta” (Xh 7, 26), hay “Thiên Chúa anh em phán : Hãy an ủi, an ủi dân Ta” (Is 40, 1)…. Từ truyền thống Cựu ước Ít-ra-en được gọi là dân tuyển chọn, dân riêng của Đức Chúa.

Với Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân) – Hiến chế Tín lý về Giáo hội, của Công đồng Va-ti-ca-nô II, “Dân Thiên Chúa” là một trong số cách diễn nghĩa về Giáo hội : “thân thể Đức Ki-tô”, “thực tại hữu hình và thiêng liêng”…, nhằm nhấn mạnh tính năng động của đời sống và ơn gọi Ki-tô hữu.

Sự biến chuyển của thế giới và con người thời đại

Công đồng, trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng – Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay, ghi nhận những thay đổi mau lẹ và sâu đậm của thế giới nhờ trí óc thông minh và phát minh khoa học của con người. Cũng vậy, con người thời đại bị xâu xé từ nhận thức trái ngược : sự phát triển và hệ lụy của nó, chênh lệch giữa giàu có và nghèo đói, tự do phóng khoáng và hình thức nô lệ mới. Đó là vui mừng và hy vọng, lo lắng và ưu sầu của con người thời đại.

Sự biến đổi sâu rộng đến từ phát minh và phát triển khoa học. Tinh thần khoa học tạo nên lối suy tư mới so với trước kia. Kỹ thuật làm thay đổi cục diện địa cầu. Điều này tác động lên tâm lý con người muốn chinh phục cả không gian và thời gian.

Mặt khác, sự biến chuyển không chỉ đến từ phát minh và phát triển khoa học mà còn từ cơ cấu xã hội. Mô hình xã hội truyền thống bị thay đổi do việc đô thị hóa và được định hình theo “khuôn mẫu kỹ nghệ”. Biến chuyển này tác động lên cách suy nghĩ và cách tổ chức đời sống. Mối tương quan con người không còn chỉ được giới hạn trong phạm vi “làng xóm”, nhưng được “xã hội hóa” : mối liên hệ mới vượt ranh giới vùng miền không ngừng gia tăng.

Từ biến chuyển trong phạm vi khoa học và xã hội dẫn đến biến chuyển tâm lý, luân lý và tôn giáo. Người ta đặt lại vấn đề giá trị truyền thống : tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực, thích hợp hay lỗi thời, lâu bền hay nhất thời…. Cũng vậy, nhiều người muốn đi ra khỏi thế giới niềm tin vì khoa học.

Ngoài ra, Công đồng còn ghi nhận vấn nạn sâu xa của nhân loại. Nhiều người mãn nguyện với phát triển mới trong lãnh vực khoa học – kỹ thuật và xã hội và đánh mất ý thức đi tìm ý nghĩa cuộc sống hôm nay và mai hậu.

Giáo hội trong lòng thế giới

Công đồng phác họa bức tranh thế giới qua ghi nhận các chuyển biến mới của thế giới nhiều lúc vượt khỏi khung cảnh truyền thống. Trong lòng thế giới này Giáo Hội hiện hữu như người đồng hành và chia sẻ. Từ lời mở đầu của Hiến chế Vui mừng và Hy vọng Công đồng viết : “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người hôm nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thật vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki-tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc hành trình về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem tới cho mỗi người. Vì thế, cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại” (số 1).

Giáo hội sống Tin Mừng là thực thể liên đới và làm phần cùng với toàn thể nhân loại : sống vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người thời đại. Sống liên hệ mất thiết với con người là đời sống của Giáo hội. Đời sống này xuất phát từ công trình tạo dựng, mầu nhiệm Nhập thể, cái chết và phục sinh của Đức Ki-tô. Tin Mừng cho chúng ta biết Thiên Chúa đi vào đời sống con người và nhân loại cách sâu xa qua cuộc sống con người nơi Đức Giê-su Ki-tô.

Sứ mạng của dân Thiên Chúa

Hiến chế Vui mừng và Hy vọng vừa cho chúng ta biết Giáo hội sống Tin Mừng là thực thể liên đới và làm phần cùng với toàn thể nhân loại. Nhưng Giáo hội đó là gì ?

Giáo hội là dân Thiên Chúa biểu lộ hai đặc tính căn bản như Hiến chế Tín lý về Giáo hội (Lumen Gentium) xác định : “Dân thiên sai” và “thân thể Đức Ki-tô”. Là “dân thiên sai”, “Giáo hội đi sâu vào lịch sử nhân loại” (LG, 9), và là “thân thể Đức Ki-tô” Giáo hội được mời gọi sống hiệp thông : “Thật vậy, tất cả các chi thể tuy nhiều, nhưng chỉ tạo thành một thân thể ; cũng thế, các tín hữu hợp thành một thân thể trong Chúa Kitô (x. 1Cor 12,12)". Hai hình ảnh này của dân Thiên Chúa nói về sức sống và tính năng động của ơn gọi Ki-tô hữu. Trong việc xây dựng nhiệm thể Chúa Ki-tô và trong đời sống dân Thiên Chúa, các tín hữu tham dự vào sứ mạng tông đồ của Giáo hội qua chính ơn gọi Ki-tô hữu.

Phẩm trật Giáo hội không thể làm giảm tính năng động của mọi thành phần dân Thiên Chúa, đặc biệt là giáo dân, vì bất cứ lý do gì. Công đồng Va-ti-ca-nô II đã ý thức về điều này trong Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân (Apostolicam actuositatem) :

“Thánh Công đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của dân Thiên Chúa , nên chú tâm hướng về các Ki-tô hữu giáo dân, những người có phần riêng biệt và cần thiết trong sứ mệnh của Giáo hội, như đã được nhắc đến trong những văn kiện khác. Bởi vì, vốn phát sinh từ ơn gọi làm Ki-tô hữu, việc tông đồ giáo dân không bao giờ có thể khiếm khuyết trong Giáo hội. Trong những buổi đầu Giáo hội, việc tông đồ này thật là hăng say và kết quả biết bao ! Chính Thánh Kinh chứng minh cách phong phú điều đó (x. Cv 11, 19-21; 18, 26; Rm 16,1-16 ; Ph 4, 3).
Thời đại chúng ta đòi hỏi người giáo dân phải nhiệt thành không kém, nhất là những hoàn cảnh hiện tại càng đòi hỏi việc tông đồ của họ phải hoàn toàn mạnh mẽ và sâu rộng hơn. Quả vậy, càng ngày dân số càng gia tăng, khoa học và kỹ thuật càng tiến triển, những mối tương quan mật thiết hơn giữa con người không những mở rộng môi trường hoạt động tông đồ giáo dân đến vô hạn, môi trường mà phần lớn chỉ dành riêng cho họ, mà còn tạo nên nhiều vấn đề mới đòi họ phải đặc biệt lưu tâm học hỏi. Việc tông đồ này lại càng trở nên khẩn trương hơn, vì sự biệt lập trên nhiều phương diện của cuộc sống con người như thường thấy, càng gia tăng, đôi khi gây nên một sự tách biệt với trật tự luân lý và tôn giáo, cũng như tạo ra một sự nguy hiểm trầm trọng cho đời sống Ki-tô giáo. Hơn nữa, trong những miền thiếu linh mục hay khi các ngài không được tự do thi hành chức vụ, thì Giáo hội khó có thể hiện diện và hoạt động hữu hiệu nếu không nhờ giáo dân cộng tác.” (số 1).

Lời mở đầu của Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân trên đây cho chúng ta thấy sứ mạng hoạt động tông đồ giáo dân thuộc căn tính, được sinh ra từ bí tích Rửa tội, trong cùng “Dân Thiên Chúa”. Trở thành Ki-tô hữu là tham dự vào việc loan báo Tin Mừng cứu độ mà Đức Ki-tô đã khởi sự. Quả vậy, sức sống của Giáo hội là sức sống của dân Thiên Chúa.

Bản chất ơn gọi Ki-tô hữu

Theo các chuyên gia về Công đồng, cấu trúc của Hiến chế Tín lý về Giáo Hội chỉ cho chúng ta đâu là điểm thiết yếu của đời sống Giáo hội. Sau khi nói về “Mầu nhiệm của Giáo hội” (chương I), Hiến chế trình bày các phần : “Dân Thiên Chúa” (chương II), “Tổ chức phẩm trật Giáo hội” và “Giáo dân” trong nhiệm thể Chúa Ki-tô. Tính chất đặc thù của giáo dân là thực thi “phận vụ riêng của mình”, nhưng họ “thực hiện sứ mệnh của toàn dân Ki-tô giáo trong Giáo hội và trên trần gian”. Đặc biệt, tất cả được mời gọi nên thánh, được trình bày trong chương trọng tâm (chương V).

Công đồng viết :

“Chúa Giê-su, thầy dạy và mẫu mực thần linh của mọi sự trọn lành, đã giảng dạy cho tất cả và cho mỗi một môn đệ, bất luận thuộc lảnh vực nào, đời sống thánh thiện mà chính Người vừa là Ðấng ban phát vừa là Ðấng hoàn tất : "Vậy các con hãy trở nên trọn lành như Cha các con ở trên trời" (Mt 5,48). Bởi vậy, Người đã sai Thánh Thần đến với mọi người, để từ bên trong Ngài thôi thúc họ yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn cùng hết sức họ (x. Mc 12, 30), và yêu thương nhau như Chúa Ki-tô yêu thương họ (x. Ga 13, 34; 15, 12). Ðược Thiên Chúa kêu gọi và được công chính hóa trong Chúa Giê-su, không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định và ân phúc của Ngài, các môn đệ Chúa Ki-tô, nhờ lãnh nhận phép Thánh Tẩy, bí tích đức tin, đã thực sự trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính Ngài, và do đó, thực sự đã trở nên thánh” (Số 40).

Cứu cánh của đời sống Ki-tô hữu là “trở nên thánh”, chứ không phải để thực hiện một số mô hình hoạt động khác nhau cách thành công, cho dù các hoạt động này cần thiết. Nhưng nên thánh là gì ? Đó lại là câu hỏi lớn khác. Câu trả lời chắc chắn là chúng ta không thể tự đưa ra bất cứ khung “thánh thiện” nào và việc nên thánh cũng không tùy thuộc ở phẩm chất cá nhân. Những gì được gọi là thánh chỉ có thể đến từ Thiên Chúa, vì “chỉ có Ngài là Đấng Thánh” và nhờ lòng thương xót của Ngài mà con người được ơn cứu độ. Trở nên thánh là đi trên con đường muốn trở nên gần Thiên Chúa hơn, được thể hiện trong việc lựa chọn sống các hình thức Tin Mừng. Trở nên gần Thiên Chúa trong mối tương quan “Giao ước”, chứ không phải bằng Ngài. Đọc lại lịch sử Ki-tô giáo, chúng ta thấy các Ki-tô hữu chọn “mô hình lý tưởng” khác nhau theo từng thời kỳ. Sách Công vụ Tông đồ trình thuật lại việc các Ki-tô hữu tiên khởi sống Tin Mừng như thế nào : “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. […]. Các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí với nhau, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến.” (Cv 2, 42 ; 44-47) Đó là “mô hình lý tưởng” của đời sống Ki-tô hữu đối với tín hữu tiên khởi. Đến thời kỳ bách hại, sau thời kỳ các Tông đồ, gương tử đạo trở thành dấu chỉ của sự trung tín hoàn hảo trong đời sống đức tin. Rồi trong thời kỳ mà Ki-tô giáo trở thành “quốc giáo”, các Ki-tô hữu được nhiều “đặc quyền đặc lợi”, đời sống đức tin của nhiều tín hữu trở nên nhạt nhòa, các đan sĩ và tu sĩ trở thành gương mẫu cho đời sống Ki-tô trung thành. Đến hôm nay, những gương mặt Ki-tô hữu khác trở thành biểu tượng của đời sống đức tin sâu xa : hy sinh mạng sống vì bạn tù, sống trọn vẹn với người nghèo, biểu lộ tiếng nói của công lý và hòa bình…. Thật vậy, các gương mẫu đức tin “thánh thiện” nơi đời sống của Giáo hội phong phú và đa dạng.

Tóm lại

Dân Thiên Chúa nói cho chúng ta về viễn cảnh mà sách Khải Huyền của thánh Gio-an loan báo : “Kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7, 9). Đây là hình ảnh Nước Thiên Chúa, nơi đó các công dân là “những người đã giặt áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7, 9) : họ đã để cho Lời Chúa biến đổi cuộc đời và tình yêu của Ngài lôi cuốn.

Trần Văn Khuê, aa



Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

NGƯỜI NGHÈO CỦA CHÚA

Ngay từ lúc lên ngôi giáo hoàng, Đức Phan-xi-cô xác định Giáo hội ưu tiên cho người nghèo và theo đuổi con đường xây dựng Giáo hội sống tinh thần nghèo khó. Lời công bố này được đón nhận cách rộng rãi trên toàn thế giới, không chỉ trong lòng Giáo hội mà còn nơi nhiều người khác. Thực ra, xác tín này không phải là điều gì mới mẻ, vì từ bản chất Giáo hội được gọi và sai đi đến với người nghèo. Nếu như Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô hôm nay minh định lại sứ mạng này, đó bởi vì ngài muốn Giáo hội biểu lộ sự trung tín lớn hơn với Đấng là đầu – Đức Giê-su Ki-tô, và mặt khác, phần nào cho chúng ta hiểu con đường mà Giáo hội tiếp tục bước đi giữa lòng thế giới hôm nay là cuộc chiến đấu cam go.

“Tinh thần nghèo khó” và câu hỏi mang tính đa chiều

Nơi bài “Tám Mối Phúc Thật”, nằm trong loạt bài giảng trên núi – khởi đầu sứ vụ rao giảng Nước Trời, Chúa Giê-su giảng dạy dân chúng : “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,1). Sự khai mở Nước Trời bắt đầu từ giáo huấn của Đức Giê-su nằm ở tinh thần “Tám Mối Phúc” và sống “tinh thần nghèo khó” là một trong những điểm nền tảng. Tuy nhiên, “tinh thần nghèo khó” hay “sống nghèo khó” là gì ? Đó vẫn là câu hỏi mà nhiều người đặt ra. Câu hỏi này trở thành thách đố đối với đời sống Giáo hội.

Thách đố này đến từ cách diễn giải tình thần “Tám Mối Phúc Thật” trong việc sống liên đới với người nghèo. Diễn giải nhiều lúc dẫn đến nhầm lẫn.

Sự nhầm lẫn thường thấy trước hết là Giáo hội được xem như “cơ quan phân phát của cải” cho người nghèo. Trong lúc đó, dù sách Công vụ Tông đồ thuật lại việc các Tông đồ và tín hữu tiên khởi sống chia sẻ của cải vật chất với nhau và với người nghèo thì Giáo hội chưa bao giờ đặt mình ở vị thế của “tổ chức từ thiện”. Luôn nỗ lực sống trung thành với tinh thần Tin Mừng : “tinh thần nghèo khó” và liên đới với người nghèo, nhưng Giáo hội lại phải nhìn nhận không thể trả lời hết các câu hỏi và đáp trả mọi hoàn cảnh nghèo đói của nhiều người.

Sự nhầm lẫn tiếp theo liên quan đến việc sống “tinh thần nghèo khó” là Giáo hội được nhìn như thành phần cổ võ cho “tình trạng nghèo đói”. Trong lúc thế giới đang nỗ lực đẩy lùi sự nghèo đói, Giáo hội sống “tinh thần nghèo khó” có ý nghĩa gì trong việc thăng tiến đời sống con người và xã hội ?

Người nghèo trong Kinh Thánh

Chúng ta không thể nói hết và thấu đáo về vấn đề người nghèo được trình bày trong Kinh Thánh ở đây. Nó cần được trình bày cách hệ thống hơn trong các nghiên cứu khác. Bởi lẽ, theo các truyền thống Kinh Thánh khác nhau, từ phần Cựu ước đến Tân ước, người nghèo được nhìn từ những khía cạnh đa dạng : “người nghèo được chúc phúc” trong truyền thống “Tư tế”, người nghèo là thành phần được bảo vệ trước tiên trong truyền thống “Đệ nhị luật” và “Giao ước”, người nghèo là đối tượng rao giảng trong truyền thống “ngôn sứ”….

Tuy nhiên, một cách bao quát, chúng ta thường thấy các gương mặt tiêu biểu của người nghèo được Kinh Thánh nói đến : người ngoại kiều, cô nhi quả phụ, người nô lệ, người đau yếu bệnh tật. Dù họ không cùng cấp bậc và hoàn cảnh, nhưng họ là biểu tượng cho con người không được đảm bảo về “quyền cơ bản” và bị đẩy xuống hàng sau cùng của xã hội. Họ là người không được trân trọng, và thậm chí hơn thế nữa là thành phần bị xua đuổi và xa lánh trong cộng đồng xã hội.  

Quả thật, những trang Tin Mừng trình thuật về sứ mạng rao giảng Nước Trời của Đức Giê-su ghi lại “lời ban sự sống” của Thiên Chúa cho con người. Đức Giê-su đến nói cho con người biết vị thế làm con Thiên Chúa và phục hồi phẩm giá cho con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa.

“Người nghèo đích thật” theo thánh Âu-gus-ti-nô

Ai là người nghèo, hay người nghèo đó là ai ? Trong bài giảng Chúa nhật ở Carthage (Sermon XIV), thánh Âu-gus-ti-nô đưa ra câu trả lời cho những tranh chấp giữa người nghèo và người giàu về việc ai là người xứng đáng được hưởng Nước Trời. Sự tranh chấp này đến từ nhận thức khác nhau về người nghèo và người giàu.

Có nhiều người nghèo cho rằng mình mới là người được hưởng Nước Trời vì giống La-da-rô trong Tin Mừng. Âu-gus-ti-nô thuật lại câu chuyện : « Một kẻ ăn mày yếu ớt, áo quần rách rưới, đang chết đói, đến nói với tôi : tôi phải được vào Nước trời, vì tôi giống La-da-rô, người đầy mụn nhọt ngồi ở cổng nhà người giàu […]. Chính những người như chúng tôi phải được vào Nước Trời, chứ không phải người ăn mặc lụa là và ngày ngày sống trong sự giàu sang ».

Âu-gus-ti-nô ghi nhận trong ngôn ngữ thông thường người ta hiểu sự giàu có đối nghịch với nghèo khó. Nhưng đó không phải là sự giàu có và nghèo khó mà Kinh Thánh nói đến. Người nghèo đích thật – người nghèo của Chúa không hẳn là người « không đồng xu dính túi », « không có của cải », mà là người khiêm tốn và biết đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa. Bởi lẽ, Âu-gus-ti-nô nói tiếp : « Kẻ nào vừa nghèo vừa kiêu ngạo thì thật đáng sợ ». Người giàu chính là kẻ tự kiêu.

Nói về sự nghèo khó, Âu-gus-ti-nô viết : « Hãy đọc, hoặc, nếu anh không biết đọc, hãy lắng nghe, khi người ta đọc, đoạn mà ngươi thấy Áp-ra-ham hết sức giàu trong thế gian này, giàu vàng, bạc, gia nhân, súc vật, đất đai (St 23, 2). Tuy nhiên, người giàu này lại nghèo, bởi vì ông khiêm tốn. “Áp-ra-ham tin Đức Chúa, và vì thế, Đức Chúa kể ông là người công chính.” (St 15, 6) Ông đã tìm thấy sự công chính hóa trong ân sủng, không phải trong cảm xúc suy đoán cá nhân. Ông trung thành, miệt mài với điều thiện ; ông nhận được lệnh hiến tế người con ; không do dự, ông hiến dâng những gì ông đã nhận từ Đấng ban cho ông. Đức Chúa, chuẩn nhận, làm cho ông trở thành gương mẫu đức tin. Đức Chúa đã biết ông, nhưng Ngài phải chỉ cho chúng ta biết ông ; những việc làm tốt của Áp-ra-ham không làm cho ông kiêu ngạo : người giàu đó thực sự nghèo. Ông hoàn toàn không viện cớ những việc làm tốt để tự kiêu (trong sự tin chắc rằng tất cả những gì ông có đến từ Đức Chúa, vì thế ông không tự tôn vinh nơi mình, nhưng trong Chúa). »

Tiếp theo trong bài giảng, Âu-gus-ti-nô nói về ông Gióp : “Gióp nói, thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi [xin chúc tụng danh Đức Chúa]” (Job 1, 21). […]. Đây là một loại người nghèo khác : “Chúng ta không mang gì vào trong thế gian này và chắc chắn chúng ta cũng không thể lấy theo gì. Như vậy, nếu chúng ta có gì để nuôi và che thân, hãy vui mừng về điều đó.” Ai muốn trở nên giàu rơi vào trong chước cám dỗ, trong cái bẩy, trong sự thèm muốn điên rồ. Nó dìm con người trong sự sụp đổ và sa đọa ; bởi vì nguồn gốc của điều dữ là lòng yêu mến tiền bạc, và một số, để miệt mài tìm kiếm trong đó đã xa rời đức tin và gây nên nhiều sự đau khổ ».

Cuối cùng, Âu-gus-ti-nô chỉ cho các tín hữu đâu là « Người nghèo đích thật » của mọi người nghèo : « Hãy ngắm xem Người, Đấng giàu có của chúng ta, vì chúng ta mà đã trở nên nghèo khó, Người hoàn toàn giàu có : anh chị em hãy chiêm ngắm Đấng giàu có này : “Tất cả được dựng nên bởi Người và không gì được tạo thành mà không do Người” : Đấng làm ra vàng lớn hơn người thủ đắc vàng. Anh giàu có về vàng, bạc, gia nhân, ruộng vườn, súc vật. Anh đã không thể tạo nên những thứ đó. Hãy nhìn xem Đấng giàu có : Tất cả được dựng nên bởi Người. Bây giờ hãy chiêm ngắm Đấng nghèo khó : “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1, 3-14)”.

Tóm lại :

Người nghèo của Chúa không hẳn là người không có của cải, người nghèo vật chất. Sống “tinh thần nghèo khó” không phải là khước từ của cải, nhưng là trở nên khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa và trước mặt mọi người. Người nghèo của Chúa chính là người sống khiêm hạ. Mặt khác, Kinh Thánh cho thấy lời mời gọi sống liên đới với người nghèo là con đường chống lại sự nghèo đói ; đó là thứ nghèo đói hủy hoại phẩm giá con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và tách con người ra khỏi Đấng tạo hóa.

Trần Văn Khuê, aa





Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

NHÌN TỪ RÔ-MA

Một lần nữa tôi lại có dịp trở lại với thành phố Rô-ma....



Rô-ma, cái nôi của nền văn minh phương Tây (sau thành phố A-then, Hy-lạp), trung tâm của Đế quốc La-mã, mãnh đất cưu mang thành Va-ti-can. Rô-ma khoác trên mình những cái tên vô tận : Caput Mundi (Kinh thành thế giới), Thành phố trên bảy ngọn đồi, Città eterna (Thành phố vĩnh hằng)…

Rô-ma, một cách nào đó, biểu trưng cho “Thành đô Thiên Chúa”. Nó là trung tâm hành hương, nơi hội tụ nhiều người thuộc mọi sắc tộc, mọi ngôn ngữ và mọi quốc gia. Rô-ma là nơi mà người ta tìm đến không những chỉ vì các công trình kiến trúc đồ sộ và các tác phẩm nghệ thuật, mà còn là linh địa của đức tin.

Những gì tôi thấy là sự kiên trì và lòng yêu mến của khách hành hương đối với nơi đây. Người ta kiên trì trong dòng người tiến về thánh điện của Vương cung thánh đường Phê-rô ; người ta kiên trì trong những giờ yết kiến chung hàng tuần của Đức Giáo Hoàng ở quảng trường thánh Phê-rô dưới cái nắng mùa hè Rô-ma. Người ta biểu lộ lòng yêu mến đối với Giám mục thành Rô-ma (Đức Giáo Hoàng) - người đấng đầu của Giáo hội Công giáo.



Tôi tự hỏi điều gì làm cho người ta trở nên kiên nhẫn, yêu mến, quảng đại, vị tha, nhân ái, bao dung với người khác, nếu đó không phải là trái tim hướng về Thiên Chúa ? Nhân loại đã từng kinh nghiệm về cơ chế, hệ thống xã hội, tài chính và quyền lực chính trị không đủ đảm bảo cho an toàn đời sống và hạnh phúc mà con người tìm kiếm và giúp họ sống liên đới hơn trong thế giới đại đồng. Sụp đổ, suy thoái, xung đột, khủng hoảng… trong thế giới chúng ta là những bằng chứng.

Con người chấp nhận sự yếu đuối và bất toàn của chính mình cũng như của người khác để cùng nhau tiến về “Thành đô Thiên Chúa” khi được lôi kéo về Đấng siêu việt và vô biên.

Trần Văn Khuê, aa


Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

NGƯỜI CON HÒA BÌNH ?

Theo lẽ tự nhiên chúng ta nói về thế hệ người con Đất Việt sinh ra sau cột mốc 1975 như “người con hòa bình”. Bởi lẽ, cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam – Bắc đã chấm dứt từ đó. Những đứa trẻ sinh ra không còn biết khói đạn chiến tranh như cha ông chúng. Các cuộc chiến “khốc liệt” và “bi thương” chỉ còn là câu chuyện “thực thực – hư hư”, “mờ mờ - ảo ảo” và mang nhiều tình tiết “huyền thoại” được thêu dệt bởi nhiều màu sắc chính trị và cung bậc cảm xúc khác nhau qua truyện kể, truyền thông đại chúng hay được hệ thống hóa trong những trang sách “sử học”. Đó là cuộc chiến mà chính nhiều người thuộc bậc tiền bối của chúng cũng muốn quên đi trong cay đắng. Quên đi cho một quá khứ quá “bạo tàn” và quá “hãi hùng”. “Hòa bình”, đó là điều mà người ta tự hào.

Tuy nhiên, tôi lại sực nhớ câu nói của cố Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII trong thông điệp Pacem in terris (Hòa bình trên trái đất, 1963) : “Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh”. Thông điệp này được gửi cho tất cả mọi thành phần dân Chúa trong Hội Thánh Công Giáo cũng như cho mọi người thành tâm thiện chí trên toàn thế giới, trong đó Đức Giáo Hoàng xác định sự tồn tại của nền hòa bình đích thực chỉ được xây dựng trên nền tảng sự thật, công lý, bác ái và tự do. Lời minh định này đưa tôi vào cuộc chiến tư tưởng về hòa bình trên mảnh đất đã hết rồi tiếng súng và bom đạn, nhưng tiềm tàng chiến tranh.

Chúng ta chưa có hòa bình khi cuộc chiến tự do đang bị đàn áp. Tự do không đồng nghĩa với vùng “giải phóng”. Tự do cũng không đồng nghĩa với “quan điểm chính trị” : bảo thủ hay phóng khoáng. Tự do vượt lên trên mọi quan điểm và thể chế chính trị. Điều khôi hài là khi ai đó biểu đạt sự tự do và tức khắc bị quy chụp về “quan điểm chính trị”. Tự do đơn giản là con người. Con người tự do có khả năng lý trí suy nghĩ cách độc lập và không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Tự do là giá trị tự nhiên được thừa nhận cách phổ quát : “Mọi người sinh ra đều được tự do” (x. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Điều 1).

Chúng ta chưa có hòa bình khi cuộc chiến sự thật đang trong mây mù. Sự thật và giả dối như bức tranh tối sáng mờ mờ ảo ảo. Việc “đánh lộn con đen” như chiêu thức chính trị nhem nhúa trở nên thông thường. Trong bối cảnh thật giả như “vàng thau lẫn lộn” con người phải chơi trò hai mặt trong mối tương quan con người và xã hội. Tất cả chỉ là dối gian và bi kịch. Con người sinh và có quyền được biết và nhận biết những gì là chân thật. Tìm kiếm sự thật và xác tín sự thật là khuynh hướng bẩm sinh nơi con người.

Chúng ta chưa có hòa bình khi công lý bị áp đặt. Cán cân công lý không còn là thực tại khách quan, nhưng chỉ là sự áp đặt cách độc đoán từ nhóm quyền lợi, của kẻ quyền hành. Luật thiết định không còn giữ được bản chất nội tại căn bản là bảo vệ các “thành phần yếu” của xã hội, nhưng trở thành công cụ của quyền lực thống trị. Cuộc chiến công lý là cuộc chiến cho quyền tự nhiên : “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng” (x. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Điều 1).

Chúng ta chưa có hòa bình khi bác ái vẫn còn là thứ sản phẩm xa xỉ trong xã hội thực dụng, duy vật chất và phân biệt đối xử vì hận thù chính trị. Nếu như xã hội pháp quyền là biểu tượng cho nền dân chủ thì bác ái là biểu tượng cho xã hội nhân bản. Cuộc chiến bác ái là cuộc chiến cho nền tảng : con người không được sinh ra cho bạo quyền hay cho hận thù, nhưng là sống giá trị bác ái. Câu nói nổi tiếng của Antigone, nhân vật anh hùng của Sophocle trong kho tàng triết học cổ Hy-lạp : “Tôi sinh ra cho tình yêu, chứ không phải hận thù”. Biểu hiệu của đất nước hòa bình là lòng bao dung, sự chia sẻ, tinh thần liên đới và hòa giải trong bác ái.

Trần Văn Khuê, aa




Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

ĐAU KHỔ

Kinh Thánh kể lại câu chuyện đáng thương về ông Tôbia trong cuốn sách cùng tên[1]. Ông là người đạo hạnh, tốt bụng, thương người cũng như có lòng kính sợ Thiên Chúa với lòng tin son sắt. Suốt một đời ông không bao giờ làm điều gian ác, nhưng chỉ biết làm việc thiện và giúp đỡ người khác. Người thân cận của ông là những người bất hạnh.

Là người bao dung và chính trực, thế nhưng ông lại phải gặp nhiều bất trắc và u sầu trong cuộc sống. Ông bị chính người thân thiết trong gia đình chửi rủa và hắt hủi cũng chỉ vì cái lòng tốt của ông. Bi kịch cuộc đời đạt tới đỉnh điểm là vào một ngày sau khi đi chôn cất người đồng bào xấu số bị giết chết nơi phố chợ, trong lúc Tôbia đang ngủ phân của một con chim rơi xuống mắt và làm đôi mắt ông mù lòa (Tb 2, 1-14). Lời đáp trả cay đăng cuối cùng của nàng Anna, vợ ông : “Các việc bố thí của ông ở đâu ? Các việc nghĩa của ông đâu cả rồi ? Đó, ai cũng biết là ông được bù đắp như thế nào rồi”.

Tôbia là biểu tượng của kinh nghiệm con người : “làm phúc, gặp họa” – kinh nghiệm phổ quát về sự đau khổ. Đó là kinh nghiệm sâu xa nhất về cuộc sống con người, khó có câu trả lời thích đáng. Tham vọng đưa ra các lời giải thích về bóng đêm của đau khổ chỉ mang tính phiến diện và hời hợt ; cũng như lời phân bua : “không sao đâu mà” hay an ủi : “sau cơn mưa trời lại nắng” xem chừng xuất phát từ tất cả tấm lòng thành lại trở nên vô tâm cách tàn nhẫn. Kinh nghiệm của người đồng cảm đích thực với đau khổ của người khác là sự thinh lặng trong đêm sa mạc. Quả thật, trước đau khổ, con người không có lời hay không đủ lời để nói đúng bản chất của nó.

Người Kitô hữu không tin vào thuyết “định mệnh” cũng như sự “tiền định” trong đau khổ, nhưng vẫn xác định đau khổ làm phần với cuộc sống con người. Tuy nhiên, con người không được sinh ra cho đau khổ, cũng không được ném vào trong “số phận”. Nó chỉ là sự ngẫu nhiên, sự trùng hợp tình cờ nơi cuộc sống con người. Sau tai nạn khủng khiếp, nhiều người tự hỏi cách tiếc nuối hay dằn vặt : Sao không đi sớm hơn hay muộn hơn một giờ ? Sao không đi trên chuyến xe khác thay vì chuyến xe này ? Sự bắt gặp giữa ngày giờ khởi hành và tai nạn chỉ là sự ngẫu nhiên.

Đau khổ của Tôbia cũng như đau khổ khác của nhiều người trong mọi thời đại, trong mọi hoàn cảnh, đối với người Kitô hữu, chỉ được thực sự soi sáng dưới ánh sáng phục sinh của Đức Giêsu Kitô : mầu nhiệm tử nạm và phục sinh. Đau khổ không phải là định mệnh ; nó không phải là tiếng nói cuối cùng đới với cuộc sống con người. Sự sống mới là vĩnh viễn, trường cửu. Sự sống này được ban tặng ngay trong đau khổ. Không phải đau khổ sinh sa sự sống mới, nhưng trong đau khổ sự sống không thể bị tiêu diệt. Chính niềm tin Kitô này chiếu sáng vào nơi tăm tối của thảm cảnh chết chóc do đau khổ và thắp lên niềm hy vọng nơi ngục tù.

Câu chuyện Tôbia không nhằm mục đích chất vấn về mối tương quan giữa “việc làm tốt” và “cái kết có hậu” của nó. Tôbia là gương mặt Kinh Thánh điển hình về con người đem niềm hy vọng, được thúc đẩy bởi lòng tin, vào nơi đau khổ của con người. Con đường dấn thân này không loại trừ đau khổ của chính mình – bị mù lòa, và bóng đêm đen của niềm tin.

Trần Văn Khuê



[1] Sách Tôbia, một trong số 73 cuốn sách của bộ Kinh Thánh.

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

HƠN THẾ NỮA

(Vì lý do cá nhân nên trong thời gian qua tôi không thể đăng bài. Hôm nay tôi lại mới có thể trở lại trang blog quen thuộc của mình với bài viết ngắn này. Cám ơn tâm tình của quý bạn đọc. Tôi ước mong là bạn đồng hành của các bạn và quý vị.)

Các thể chế chính trị và cơ cấu xã hội được thay đổi theo dòng lịch sử. Tuy nhiên, khi nói về nền tảng người Tây phương thường trở về với ngữ nghĩa triết học chính trị có nguồn gốc từ thời Hy lạp cổ đại. Trong triết học Hy lạp cổ đại người ta xác định ba phạm trù chính trị. Trước hết, chính trị được hiểu như xã hội dân sự. Nó là tổng thể đời sống xã hội được cơ cấu và phát triển. Tiếp đến, chính trị được hiểu như hiến pháp quy định thượng tầng cấu trúc và chức năng của các bộ phận xã hội, về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn. Cuối cùng, chính trị được hiểu như nghệ thuật lãnh đạo, thực thi quyền bính.

Chính vì sự bao trùm của chính trị trên đời sống con người, nên chúng ta nói : “con người mang tính chính trị”. Nhưng, nếu như yếu tố chính trị liên hệ tới mọi lãnh vực đời sống xã hội như ý nghĩa trên đây, nó cũng không phải là tất cả đối với con người. Nhìn vào hậu trường chính trị hôm nay, trên bình diện quốc tế cũng như quốc gia đặc biệt, chúng ta có cảm giác tất cả là con rối trong kịch tuồng vĩ đại chịu chi phối bởi tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, đảng phái chính trị, hệ tư tưởng nhiều lúc cuồng tín giáo điều. Trên sân khấu kịch tuồng này truyền thông đại chúng hiện đại trở thành phương tiện ma thuật biến hóa khôn lường nhằm phục vụ “nhóm lợi ích”.

Con người không chỉ được sinh ra để thống trị và bị thống trị, vì lợi ích và cho lợi ích. Nó được sinh ra như quà tặng và sống kinh nghiệm làm người. Kinh nghiệm này vượt qua khuôn khổ của mọi định chế. Nó là chủ thể khát khao niềm hạnh phúc vô biên, vui sống trong mối tương giao và bình lặng trong cõi thâm sâu chính mình. Có những lúc con người nổi loạn. Tuy nhiên, việc nổi loạn này không nhất thiết đến từ tính chất “con người mang tính chính trị”, nhưng vì định chế xã hội ngăn cản con đường đường hạnh phúc, hay khi nó trở thành “kẻ thù” – vật cản đường, của con người.

Con người còn hơn thế nữa. Nó không thể tự phó mặc hay được trao phó cho bất cứ hệ tư tưởng nào. Nó là chủ thể tự do và mãi mãi tự do, “ngay cả trong việc làm tồi tệ nhất” (Nietzsche). Con người chỉ có thể là chủ và trung tâm của mọi thể chế chính trị và định chế xã hội.

Trần Văn Khuê