Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

SA MẠC CUỘC ĐỜI


Ngày 11 tháng 02 vừa qua, thế giới vốn ồn ào và vồn vã hầu như đã dừng lại khi thông cáo báo chí từ Vatican phát đi : Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI quyết định từ nhiệm chức vụ Giám mục Rôma, kế vị thánh Phêrô vào ngày 28-02 tới đây. Ngay sau thông cáo này được phát đi trên các phương tiện truyền thông, nhiều người trên thế giới bày tỏ sự nuối tiếc, đồng thời thán phục và ngưỡng mộ vị mục tử tài ba, nhưng rất mực khiêm tốn. Các hãng thông tấn không ngớt đưa tin và bình luận trong những ngày qua.

Tuy nhiên, “tin nóng” về sự kiện lịch sử này hình như đã bắt đầu nhường lại cho suy tư về chân dung của người mục tử nhân hiền và nhà thần học uyên thâm, nhưng lại rất thầm lặng ngay trên cương vị Giáo Hoàng.

Thế giới “náo nhịp”chúng ta hình như đang thiếu những con người như Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Con người mà chúng ta không tìm thấy trong các sự kiện “ồn ào” trên thế giới ; con người không chủ trương “lễ hội” ; con người chỉ luôn mời gọi mọi người trở về với cái chính yếu trong sa mạc cuộc đời, nơi đó con người cần và có khả năng lắng nghe “tiếng nói nội tâm” và đối diện với chính mình cách trung thực hơn. Con đường phát triển chính là con đường hối cải. Người ta nói Ngài chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng thánh Augustinô (354-430). Quả thật, qua quan sát từ cung cách sống cho tới những suy tư thần học, chúng ta nhận thấy Ngài là con người sống kinh nghiệm về Thiên Chúa sâu xa nơi sa mạc cuộc đời – kinh nghiệm mà thánh Augustinô từng có.

Về sa mạc cuộc đời Tin Mừng đã trình bày cho chúng ta hình ảnh sinh động qua câu chuyện Đức Giêsu đi vào sa mạc sau khi nhận phép rửa của Gioan Tẩy giả để bắt đầu sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa cho dân chúng. Sa mạc trong Tin Mừng không mấy có ý nghĩa về mặt địa lý, nhưng mang tính biểu tượng. Sa mạc nơi Đức Giêsu đi vào chính là thế giới mà nơi đó con người luôn bị cám dỗ bởi quyền lực, danh vọng và tiền tài. Đó là những thứ ma lực có thể khuynh đảo và bóp chết đời sống con người. Bị thống trị bởi chúng, con người khó có khả năng nghe thấy tiếng nói sự thật và chân nhận chính mình.

Sau này các vị chân tu mà sử sách kể lại đã đi vào sa mạc để tìm kiếm đời sống “hoàn thiện”. Đó ắt hẳn không phải là những người muốn “thoát ly” thế giới, nhưng là con người ở trong thế giới này không để cho quyền lực của nó thống trị.

Sa mạc cuộc đời là không gian và thời gian mà trong đó con người bị xâu xé bởi những yếu tố con người ; đó cũng là nơi mà con người sống kinh nghiệm về sự mỏng giòn và yếu đuối con người. Trong sa mạc cuộc đời này con người nghiệm ra rằng mình không phải là tất cả và thế giới này cũng không phải là tất cả ! Cuộc sống tràn đầy chỉ có nơi Đấng vô biên – Đấng ban cho con người được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Trần Văn Khuê, aa

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Đức Thánh Cha Biển Đức 16 tuyên bố từ chức


VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 rời bỏ chức vụ Giáo Hoàng kể từ lúc 20 giờ ngày thứ năm, 28-2 tới đây.
Trong công nghị lúc 11 giờ sáng hôm qua, 11-2, trước sự hiện diện của các Hồng y và GM, ĐTC tuyên bố:

“Anh em rất thân mến.

”Tôi triệu tập anh em đến dự Công nghị này không phải để chỉ nói về 3 cuộc phong thánh, nhưng còn để thông báo cho anh em một quyết định rất quan trọng đối với đời sống Giáo Hội. Sau khi nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự chắc chắn rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp nữa để thi hành sứ vụ Phêrô một cách thích đáng nữa. Tôi ý thức rõ sứ vụ này, do yếu tính thiêng liêng, phải được chu toàn không những bằng hoạt động và bằng lời nói, những còn bằng đau khổ và cầu nguyện. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, đang chịu những biến chuyển mau lẹ và bị giao động vì những vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, cần có nghị lực cả thể xác lẫn tâm hồn, nghị lực mà trong những tháng gần đây bị suy giảm nơi tôi đến độ tôi phải nhìn nhận mình không có khả năng thi hành tốt sứ mạng đã được trao phó cho tôi. Vì thế, với ý thức rõ ràng về hành vi hệ trọng này, với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, được ủy thác cho tôi do tay các Hồng Y ngày 19 tháng 4 năm 2005, để từ ngày 28 tháng 2 năm 2013 sắp tới, Tòa Roma, Tòa Thánh Phêrô sẽ trống tòa từ lúc 20 giờ và những ai có thẩm quyền cần phải triệu tập Mật Nghị Hồng Y để bầu vị Giáo Hoàng mới”.

”Anh em rất thân mến, tôi chân thành cám ơn anh em vì tất cả lòng quí mến và công việc mà anh em đã cùng mang gánh nặng sứ vụ của tôi, và tôi xin lỗi vì tất cả những thiếu sót của tôi. Giờ đây, chúng ta hãy phó thác Hội Thánh cho vị Mục Tử Tối Cao, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và cầu xin Mẹ Maria của Ngài, với lòng từ mẫu xin Mẹ trợ giúp các Hồng Y trong việc bầu vị Giáo Hoàng mới. Về phần tôi, cả trong tương lai, tôi muốn hết lòng phục vụ Hội Thánh của Thiên Chúa bằng cuộc sống dành trọn cho việc cầu nguyện”.

Vatican ngày 11 tháng 2 năm 2013

Biển Đức 16, Giáo Hoàng

G. Trần Đức Anh chuyển ý

Ngồn : http://vietvatican.net/

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

NGÀY ĐẦU XUÂN NHỚ VỀ CỘI NGUỒN



Có lẽ nhiều người trong chúng ta từng biết lời bài hát “Đầu xuân cầu cho gia đình” của nhạc sỹ Phanxicô :

Ngày đầu xuân bao người đi xa
cũng về với gia đình
cũng về với ân tình
ngất ngây với nguồn yêu mến
dâng đến lòng mẹ cha là lòng biết ơn.

Việc trở về với gia đình xuất phát từ tâm niệm : “Chim có tổ, suối có nguồn, con người có tổ có tiên”. Điều làm cho con tim xao xuyến bồi hồi và cảm giác nhớ nhung vào những ngày cuối năm không phải vì khí trời thay đổi. Ngày cuối của tháng Chạp và đầu tháng Giêng Âm lịch, về mặt bản chất, không có gì khác so với những ngày còn lại của năm ; có hay chăng chút khác biệt là tiết trời bắt đầu thay đổi, cỏ cây hoa lá bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Thế nhưng, vào thời khắc này không trái tim nào lại hững hờ. Tâm trạng con người như hoàn toàn thay đổi với đất trời.

Khao khát trở về với cội nguồn đốt cháy con tim. Những ký ức, kỷ niệm về tuổi thơ, những hình ảnh thân thương tuôn trào. Con người tìm về nơi mình sinh ra. Mặc cho hình ảnh đơn sơ mộc mạc con người cảm thấy chúng tràn đầy ý nghĩa. Chúng là sự cuốn hút, là nguồn cảm hứng, là năng lực đổ đầy niềm khát khao được sống được yêu thương.

Con người xa quê hương như thiếu vắng hơi ấm của Đất mẹ. Chân trời mênh mông chỉ còn là khoảng trống vô hạn và nỗi nhớ vô bờ. Ai đã cho người trái tim để nhịp đập của nó hòa quyện với hơi thở của anh em đồng loại. Có những khác biệt nhưng không thể không thương không nhớ !

Đối với những ai tin vào Đức Giêsu, khát khao tìm về Đất mẹ vô biên nơi Thiên Chúa tình yêu là tất cả trong mọi sự còn rực cháy hơn thế nữa. Thánh giáo phụ Tây phương vào cuối thế kỷ thứ 4 và đầu thế kỷ thứ 5, Augustinô, sau khi miệt mài tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong các tư tưởng triết học, nghệ thuật, văn thơ…, đã đúc kết kinh nghiệm của mình trong những lời đầu của cuốn Tự Thuật : “Chính vì Chúa tạo dựng nên chúng con cho Chúa và tâm hồn chúng con luôn khắc khoải tìm kiếm cho tới khi được an nghỉ trong Ngài”. Thực tại trần thế mang ý nghĩa tròn đầy khi con người trong nó luôn hướng về thực tại siêu việt.

Mừng xuân mới, con người ở giữa trời và đất giao hòa với lòng kính cẩn và niềm khát khao cho tình yêu của Thượng Đế chan hòa mặt đất. Con người với nhau trao ban những lời cầu mong tốt đẹp. Ngày đầu xuân thánh thiêng và nồng ấm tình huynh đệ !

Chúc mừng Năm mới – Bonne Année – Happy New Year !

Trần Văn Khuê, aa


Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

TÌNH YÊU


Hai chữ tình yêu đa nghĩa khơi gợi nơi mỗi người những cảm xúc đa chiều : ngọt ngào và cay đắng, mộng mơ và thực dụng, phong phú và nghèo nàn…. Văn thơ không thiếu những câu chữ tình ; nghệ thuật không thiếu hình ảnh gợi nghĩa ; và cuộc sống chất chứa nhiều thi vị tình yêu.

Không gì đẹp và cao quý hơn tình yêu. Nó đẹp từ mông lung trong giấc mộng cho tới nghĩa cử hy sinh nơi xác phàm. Nhưng, tình yêu lại không luôn chiều theo nhịp đập cảm xúc. Nó đẹp và cao quý vì nó cao thượng.

Gần đây ở Pháp nhiều người bày tỏ ủng hộ sự bình đẳng trong hôn nhân ; hôn nhân ngay cho cả những cặp cùng giới, vì đó là tình yêu. Tuy nhiên, các nhà nhân chủng học xác định : “hôn nhân không phải là đêm hội của tình yêu”. Tình yêu không chỉ là cảm xúc, tình yêu còn là lý trí – lý trí có khả năng xúc động.

Trong Ki-tô giáo – nơi tôi sinh ra và lớn lên, tình yêu không phải là kẻ thù của érôs[1], tình yêu xác phàm. Tình yêu cần có một cơ thể để biểu lộ. Nhưng  érôs không phải là tất cả. Tình yêu còn là agapé[2], tình yêu hướng thượng, tình yêu siêu nhiên (hướng tới sự siêu việt). Nó là tình yêu của Đấng vô biên, yêu thương vô vị lợi và không điều kiện.

Tình yêu được cụ thể hóa không chỉ nơi xác phàm mang những cảm xúc, mà còn nơi nghĩa cử yêu thương mà Ki-tô giáo gọi là tình bác ái – tình yêu rộng lớn. Nói về tình bác ái này, thánh Phao-lô viết : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13, 4-7).

Trong thế giới mà hận thù thay cho tình yêu, cũng như tình yêu bị tầm thường hóa, chúng ta vẫn tin tưởng tình bác ái được tình yêu của Đấng vô biên lôi cuốn có khả năng biến đổi con người và thế giới.

Trần Văn Khuê, aa


[1] Érôs : thuật ngữ trong triết học cổ Hy-lạp nói về huyền thoại tình yêu, như thần tình yêu. Nó biểu lộ khát khao tình dục.
[2] Agapé : một thuật ngữ Hy-lạp khác nói về tình yêu siêu nhiên, tình yêu không điều kiện. Thuật ngữ này được sử dụng trong Tin Mừng. 

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

THEO DÒNG THỜI SỰ


Nói tới sự kiện liên quan tới Việt Nam gần đây, chúng ta không thể không nhắc tới cuộc hội kiến giữa Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI với ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, tại Vatican vào sáng ngày 22 tháng 01 năm 2013, nhân chuyến viếng thăm Italy của phái đoàn Nhà nước Việt Nam. Cuộc viếng thăm đã thu hút sự quan tâm của quan sát viên báo chí quốc tế và nhà bình luận. Mối quan tâm của các quan sát viên báo chí quốc tế xuất phát từ việc Đức Giáo Hoàng dành cho ông Nguyễn Phú Trọng nghi thức tiếp đón được dành cho một nguyên thủ quốc gia, và vào ngày nghỉ của Ngài (thứ ba hàng tuần).

Có nhiều phỏng đoán và bình luận trái chiều – tích cực và tiêu cực, từ cuộc viếng thăm này trong bối cảnh Việt Nam đang bị “Đàn anh phương Bắc” chèn ép và các vụ bắt bớ, kết án những người có tiếng nói đối lập trong nước, đặc biệt là 14 thanh niên Công giáo và Tin lành gần đây[1]. Thực ra thì thông cáo báo chí của Tòa Thánh cũng chỉ cho biết cách ngắn gọn về cuộc hội kiến : “các cuộc thảo luận diễn ra trong tình thân ái”, liên quan tới “những vấn đề quan tâm của Việt Nam và Tòa Thánh… Hai bên cũng hy vọng giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng và cũng cố việc hợp tác vững mạnh thêm”. Có lẽ nhiều người quan tâm đặt câu hỏi : “những vấn đề quan tâm của Việt Nam và Tòa Thánh” cũng như “một số vấn đề tồn đọng” là gì và việc “cũng cố hợp tác vững mạnh thêm” như thế nào ? Có nhiều bài bình luận trên báo chí trong những ngày qua.

Tôi có cái nhìn thực tế hơn, không phải từ cuộc tiếp đón “ly kỳ” hay từ những “cụm từ” được nêu ra trong thông cáo báo chí của Tòa Thánh, mà từ bài phỏng vấn của ông Tổng bí thư do BBC thực hiện. Mời quý vị xem cuộc phỏng vấn này :



Chúng ta nhận thấy trong bài trả lời phóng viên đài BBC của ông Nguyễn Phú Trọng không có gì mới mẻ so với những gì mà chúng ta vẫn từng được nghe.

Trước hết, ông Nguyễn Phú Trọng xác quyết, dù tình hình kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng trong những năm qua nhưng nền kinh tế và đời sống người Việt Nam ở quê nhà vẫn đứng vững. Ông phát biểu : “Mặc dù gần đây thì kinh tế thế giới có những suy thoái, có những khủng hoảng tài chính, nhưng Việt Nam chúng ta vẫn đứng vững, giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát từ 18% xuống còn 6%-7% thôi, an sinh xã hội vẫn đảm bảo, đời sống tốt, vừa rồi bà con vui No-en đông lắm ; sáng nay tôi gặp Giáo Hoàng, nói rằng bà con vui No-en đông lắm.” Theo tôi hiểu, từ lời phát biểu này, thì Việt Nam là Nước (có lẽ là duy nhất) nằm ngoài ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Có hai vấn đề ở đây : thứ nhất, khả năng để Việt Nam “giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô”, không chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới, đó là Việt Nam “nằm ngoài” hệ thống kinh tế thế giới (chúng ta là duy nhất theo “nền kinh tế định hướng XHCN”!) ; thứ hai : những vụ bế bối tài chính do tham nhũng, do lũng đoạn chính trị được phanh phui gần đây trên báo chí không là cái gì ; những con số khổng lồ mà những người dân Việt Nam bình thường chưa bao giờ nhìn thấy (ngay cả trong giấc mơ) trong các vụ tham nhũng là chuyện nhỏ ; “an sinh xã hội vẫn đảm bảo, đời sống tốt” ; “bà con vui No-en đông lắm” ! Chắc đây phải “nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Nhà nước”. Hẳn gì, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giải thích trước dân : đã 51 năm trung thành đi theo Đảng, nay vì được Đảng giao phó nên tiếp tục gánh vác sự nghiệp giang sơn Đất nước cho đến hết chặng đường cuối cùng !

Tiếp đến, “Ngày No-en không phải chỉ là ngày của đồng bào Công giáo thôi, thành ngày hội của toàn dân, rất vui”. Không biết là Đức Giáo Hoàng đón nhận như thế nào báo cáo này của ông Nguyễn Phú Trọng ? Theo sự hiểu biết của tôi thì Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI là một nhà thần học uyên thâm luôn đi sâu vào trong nội dung chính yếu đời sống đức tin của người Công giáo. Đời sống Kitô hữu là kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa trong việc lắng nghe Lời Chúa và sống việc cử hành các Bí tích trong Giáo Hội, chứ không phải từ lễ hội. Kitô giáo không phải là tôn giáo lễ hội. Chính đời sống đức tin này làm cho các Kitô hữu trở thành con người tự do và tìm kiếm tự do, công bình và bác ái. Nếu Đức Giáo Hoàng vui mừng vì ngày Lễ No-en là ngày hội thì Ngài không cần phải đi sang tới Việt Nam và chờ cho tới ngày hôm nay ; thế giới đã đón chào ngày Lễ No-en như ngày hội đã lâu lắm rồi. Ông Nguyễn Phú Trọng đã chủ quan đánh giá thấp sự biết của Đức Giáo Hoàng !

Cuối cùng, ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục : “Tôi có nói là tất cả chúng ta đều vì mục đích là chăm lo làm sao để đảm bảo đời sống của nhân dân về vật chất và tinh thần, sống tốt đời đẹp đạo, sống Phúc âm trong lòng dân tộc, mỗi người Công giáo tốt thì trước hết phải là một công dân tốt ; Giáo Hoàng nói với tôi như thế rất phấn khởi.” Chúng ta không xa lạ với những lời trích này, được Đảng và Nhà nước rút ra cách vội vàng từ văn kiện của Giáo Hội để giảng dạy cho người Công giáo từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, có điều đặc biệt trong lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng lần này : “Giáo Hoàng nói với tôi như thế rất phấn khởi” ; nghĩa là kể từ đây ông không cần phải tìm kiếm nơi đâu khác bài giảng sống đạo cho người Công giáo  - ngay cả qua trung gian các tài liệu Giáo Hội đầy đủ hay qua sự diễn giải của Hội đồng Giám mục Việt Nam về việc sống Phúc âm của người Công giáo trong thế giới hôm nay : “Giáo Hoàng nói với tôi như thế”. Ông cho thấy mình là chứng nhân sống cho xác quyết : “mỗi người Công giáo tốt thì trước hết phải là một công dân tốt” ! Về vấn đề này – cả về phần nội dung và hình thức (cách trích dẫn) đã có nhiều bài bình luận của các chuyên gia và những người hữu trách Giáo Hội, tôi không trở lại với những phê bình. Điều duy nhất tôi muốn nói là tôi hoàn toàn nghi ngờ về tính lương thiện trong lời trích này !

Dù có những phỏng đoán như thế nào thì phát biểu này của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ vẫn còn là chính sách "nhất quán" của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong một thời gian tới !

Trần Văn Khuê



[1] Xem : “Ban Công lý và Hòa bình Giáo phận Vinh phản đối bản án phi pháp và bất công”, ngày 20 tháng 01 năm 2013 ( http://giaophanvinh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=8989 ).

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

CON NGƯỜI VÀ HẠNH PHÚC


Con người được sinh ra cho hạnh phúc. Hẳn nhiên, xác quyết này không thể bị phủ nhận bởi bất cứ ai, dù họ thuộc những khuynh hướng triết học hay tôn giáo khác nhau. Nó cũng không thể bị phủ định bởi kinh nghiệm về thân phận con người, ngay cả khi kinh nghiệm này có tăm tối như thế nào.

Con người được sinh ra cho hạnh phúc. Đó, trước hết, bởi vì khi sinh ra con người được Thượng Đế ban cho quyền thừa hưởng những gì trong trật tự tự nhiên của vũ trụ. Con người không chỉ được bình quyền về phẩm giá, vai trò trong đời sống xã hội mà còn bình quyền về việc vui hưởng những gì thuộc về nó cách tự nhiên.

Con người được sinh ra cho hạnh phúc. Đó còn vì con người là quà tặng cho người khác. Sự sống mới được ban tặng khi một người được sinh ra là niềm vui cho hết thảy. Ngày mà bạn và tôi sinh ra trong đời này là ngày vui tràn đầy của cha mẹ, gia đình, bạn bè, làng xóm của bạn và của tôi.

Trái với hạnh phúc là điều bất hạnh – thứ bất hạnh trái tự nhiên. Sự bất hạnh khởi thủy khi con người sinh ra mà không được đón nhận. Việc có mặt của con người này được xem như “tai nạn”, “ngoài ý muốn” hay trở nên “của nợ” đối với người khác. Điều trớ trêu, người khác lại không phải là người xa lạ mà là người thân cận ! Có những em bé đã bất hạnh ngay từ trong lòng mẹ. Sự bất hạnh của bé không phải vì “thiên định”, mà do chính tư tưởng điên rồ con người.

Sự bất hạnh còn là việc tước quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác – quyền tự nhiên cơ bản. Có những người - chúng ta thường thấy trong các chế độ độc tài, tự cho mình cái quyền cao hơn sự sống, vận mệnh của người khác và ngang nhiên tước quyền mưu cầu hạnh phúc của họ. Quyền mưu cầu hạnh phúc, đó là quyền bình đẳng, quyền được sống xứng với nhân phẩm, quyền được chọn cho mình nơi ở, quyền được bày tỏ quan điểm riêng, quyền tự do lương tâm,…. Những quyền cơ bản này không do luật thiết định, nhưng qua luật tự nhiên ; chúng cũng không phải chỉ riêng là quan điểm của các tôn giáo, chính Hiến chương Liên Hiệp Quốc về Quyền con người cũng đã xác định.

Con người và hạnh phúc là tự nhiên, nhân bản và đạo đức. Ai không mưu cầu hạnh phúc hay chống lại hạnh phúc là chống lại con người !

Trần Văn Khuê, aa

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

NHỮNG ĐAO PHỦ ĐẾN TỪ CHỦ THUYẾT GIÁO ĐIỀU


Khi nói về lịch sử thế giới và nhắc lại những vết đen của nó người ta thường trưng diễn biến cố Shoah – thảm họa diệt chủng người Do-thái do Hít-le và Phát-xít Đức gây ra vào những năm 40 của thế kỷ XX. Đó không hẳn vì thảm họa này kinh khủng hơn những thảm họa do các nhà độc tài khác trên thế giới gây ra từ trước đến nay, hay phần còn lại của thế giới trong sạch hơn, nhưng vì chúng ta nhận thấy một trong những điều khủng khiếp nhất nơi biến cố này là con người bị giáo điều hóa bởi thứ chủ thuyết không tưởng đến mức cuồng loạn như thú vật. Chủ thuyết giáo điều biến con người thành những tên đao phủ rùng rợn.

 Xem các bộ phim về biến cố Shoah chúng ta không thể không căm giận khi nhìn thấy gương mặt vô hồn, thản nhiên của những tên đao phủ chỉ biết thi hành mệnh lệnh cách vô lý trí và kẻ đã hun đúc họ thành những kẻ tìm thấy sự phấn khích trong việc hành hạ người khác cách đau đớn về thể xác cũng như tinh thần. Các nhân chứng sống của biến cố này kể lại việc Phát-xít Đức đã tuyển những chàng trai “thông minh, tuấn tú” – thuộc “dòng máu trắng”  để nhào nặn họ thành các tên đao phủ như thế nào. Sau khi đã được “đào tạo” – đúng hơn là được “nhào nặn” qua chủ thuyết giáo điều không tưởng tôn thờ thần tượng, con người “thông minh, tuấn tú” bỗng dưng trở thành kẻ khát máu, phấn khích trong việc bắn giết đến khó hiểu và đáng thương hại.

Nhắc lại chút lịch sử này - một vết đen không thể tẩy rửa trong lịch sử nhân loại, để không phải đưa chúng ta về với sự thù hận, bạo lực hay cái nhìn bi quan về con người – tại sao con nguời lại có thể “hành hạ” nhau cách vô nhân tính, nhưng để chúng ta – những người thiện chí cho một nhân loại nhân bản hơn, cần phải cảnh giác với thứ chủ thuyết giáo điều không tưởng có nguy cơ biến con người lương thiện thành nạn nhân vô tội. Nguy cơ này không phải là điều tưởng tượng, nhưng là những “hiện thực” trong thế giới hôm nay mà chúng ta có thể đưa mắt nhìn xung quanh, những gì đang xảy ra.

Trong cái nhìn về “nạn nhân”, xét cho cùng, người đáng bị lên án hơn hết chính là kẻ “lợi dụng” thứ chủ thuyết giáo điều không tưởng để biến nguời khác thành công cụ và đồng thời cũng là nạn nhân. Nhưng ai và cái gì có thể thức tỉnh họ ? Nơi biến cố Shoah chúng ta thấy việc thức tỉnh là điều không thể, chỉ trừ một số ít trường hợp ngoại lệ đã bắt gặp được sự kiên nhẫn và lòng bao dung vô hạn của các nạn nhân biến đổi họ từng ngày.

Trần Văn Khuê, aa