Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

TUÂN PHỤC VÀ BẤT TUÂN PHỤC


Đây là trích đoạn từ cuốn sách « Đời sống trách nhiệm, tuân phục và bất tuân phục theo Dietrich Bonhoeffer » (NXB Tôn Giáo 2009) :

Tại sao chúng ta đặt câu hỏi về sự tuân phục và bất tuân phục ? Chúng ta biết rằng ý tưởng về sự bất tuân phục rất mơ hồ, lắm khi gây hiểu lầm cho nhiều người. Thường thì nó được xem như điều đáng bị lên án vì nó làm cho chúng ta liên tưởng tới bạo lực. Tuy nhiên, đây không phải là một câu hỏi mang tính lý thuyết, trừu tượng, nhưng là một vấn đề xã hội rất cụ thể. Những nhân vật lớn của lịch sử chúng ta gần đây như Martin Luther King[1] và Mohandas Karamchand Gandhi[2] đã vận dụng nó trong cuộc đấu tranh vì quyền con người. Họ là những con người đã chống lại những chế độ bất công. Sự bất tuân phục của họ không gì khác hơn là bày tỏ xác tín của mình, những xác tín mang tính nhân văn cũng như tôn giáo. Đối với họ, những quyền cơ bản của con người là những yếu tố nền tảng, không có chúng không có bất cứ một xã hội công bằng và nhân bản nào tồn tại. Một xã hội công dân bao hàm tự do và bình quyền.

Sự bất tuân phục đạt tới sự cao thượng của nó qua những gương mặt lịch sử vĩ đại đã thực hiện sự bất tuân phục dân sự như vũ khí chống lại những tổ chức xã hội, chính trị bất công. Trong số những nhân vật lịch sử này chúng ta phải kể đến Dietrich Bonhoeffer, người đã dấn thân chống lại chế độ quốc xã nhân danh sự « phục tùng » đối với Đức Kitô. Tựa đề của cuốn sách, Widerstand und Ergebung (kháng cự và phục tùng), tập hợp những lá thư trong tù của ông, nói cho chúng ta cách chính xác về lưỡng đối cực của hành động tuân phục và bất tuân phục. Hành động này không được thúc đẩy bởi những động lực chính trị. Nó biểu lộ sự trung thành của ông với Tin Mừng : « Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm » (x. Cv 5,29). Chúng ta biết rằng bất tuân phục cũng có một vị trí quan trọng trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo[3].

Nhưng làm sao chúng ta có thể đề cập đến vấn đề bất tuân phục trong thần học ? Đối với Dietrich Bonhoeffer, sự bất tuân phục là một hành vi mang tính thần học vì nó được đặt nền tảng trong Đức Giêsu Kitô. Tuân phục và bất tuân phục có một mối tương quan tương tác. Tuân phục nhấn mạnh khía cạnh phục tùng, khiêm hạ, chấp nhận, khả năng chịu đựng ; trong khi bất tuân phục gắn liền với sự kháng cự, đối lập, sự vi phạm…. Tuy nhiên, dù ở khía cạnh nào, điều quan trọng đó là sự tự do có trách nhiệm. Đó là tư tưởng của Dietrich Bonhoeffer sẽ giúp chúng ta suy tư về sự tuân phục và bất tuân phục.

Tuân phục không thể tách lìa với suy tư về « đời sống trách nhiệm ». Nó có thể biến thành hình thức bất tuân phục, được hiểu như sự khẳng định về sự tuân phục đối với một quyền bính lớn hơn. Nói cách khác, tuân phục Thiên Chúa có thể dẫn chúng ta tới bất tuân phục đối với một tổ chức con người. Đó chính là thách đố thực sự đối với luân lý Kitô giáo. Đâu là thái độ của người Kitô hữu trong một xã hội mà những quyền bính chính trị đi ngược lại những giá trị đạo đức và tôn giáo ?

Câu hỏi này mang chiều kích Kitô học trong nghĩa nó đưa chúng ta về với thái độ của Đức Kitô. Một mặt, Người đã « vâng phục đến chết và chết trên cây thập tự » (Pl 2,5-8) trong việc trung thành với ý muốn của Chúa Cha ; mặt khác, trong suốt đời sống Người đối lập với những quyền bính bất công. Cũng vậy, nếu như thánh Phao-lô mời gọi những Kitô hữu thuộc cộng đoàn Rôma tùng phục chính quyền, « vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập » (x. Rm 13, 1-7), bởi vì quyền bính không làm tổn hại những giá trị con người.

Trần Văn Khuê, aa


[1] Martin Luther King (1929-1968), mục sư tin lành, đấu tranh một cách bất bạo động đòi quyền cho những người Mỹ da màu và chống lại việc kỳ thị chủng tộc. Trong cuộc đấu tranh ông nổi tiếng với bài diễn văn : « I have a dream » (Tôi có một giấc mơ). Ông đã được nhận giải thưởng Nobel hòa bình năm 1964 và bị ám sát vào năm 1968.
[2] Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948), một vị lãnh đạo tinh thần, một nhà đấu tranh bất bạo động của Ấn Độ. Gandhi đã đấu tranh vì nền độc lập của Ấn Độ trong thời kỳ đô hộ của người Anh. Ông được tôn vinh là vị  « cha già dân tộc » của Ấn Độ.
[3] X. GLHTCG, số 1903.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

BẠN LÀ AI ?


Ngay cả khi là người lạc quan nhất, bạn và tôi không thể không nặng lòng trong chút suy tư về thân phận con người. Đó không phải là thứ suy nghĩ viển vông hay lý thuyết đối với con người chung chung, mà là con người cụ thể với gương mặt trần trụi đang thực sự mỏi mệt trên những bước đường cuộc sống. Họ là người không có mấy nơi mình niềm hy vọng, nhưng hy vọng của họ thật sự lớn lao.

“Một nắng hai sương” :

Ai nghe câu nói “một nắng hai sương” lại không thể không liên tưởng tới con người lam lũ suốt ngày đêm vì cuộc sống hôm nay và ngày mai. Gương mặt kham khổ của con người đặt mình an phận trong kiếp nhọc nhằn. Nhưng, không còn phương cách nào khác hơn. An phận không phải để cho chính mình, nhưng cho người khác : ước mong sao cho người yêu thương có một tương lai. Tương lai, cho dù đó là thứ tương lai không xác định, không được đảm bảo, không rõ ràng, hay chỉ là mây gió mịt mờ, giông bão trùng khơi. Ai đảm bảo họ sẽ có được cuộc sống nên người, hay chỉ còn là công cụ trong cái xã hội hỗn tạp đầy kẻ ngông nghênh ? Con người “một nắng hai sương” đang hy sinh cho ngày mai hy vọng.

Ngục tù tăm tối :

Đau buồn, nhưng kiêu hãnh là bước chân của con người khát khao tìm kiếm lẽ công bình, sự thật và hòa bình. Ngục tù, đêm tối như thứ định mệnh oan nghiệt được tiên báo trước. Họ chiến đấu kiên cường như người vô vọng. Bởi lẽ, trước mặt họ pháp quyền là bức tường thành đầy gai nhọn, là con vật hoang dã chỉ biết gầm gừ và tấn công cách hung dữ cho tới tột cùng. Con người xa lạ, đối với chúng, không phải người đến từ nơi khác, mà là không thuộc chủng loại làm đàn với chúng. Ngục tù tăm tối nơi tâm hồn gai sắt và móng vuốt của loài thú dữ.

Bình minh ló dạng :

Nếu lúc nào đó bạn bi quan, xin đừng thất vọng. Chưa bao giờ có gì thắng nỗi lòng nhân tràn đầy khát vọng yêu thương và tìm kiếm điều chân thật, công lý và hòa bình. Lòng nhân lớn lao và vĩ đại ! Cuộc chiến đấu cho điều thiện mang nhiều thương đau. Con người lương thiện dễ bị tổn thuơng. Tuy nhiên, bình minh sẽ ló dạng nơi lòng can đảm, ý chí kiên cường và sự trung tín cho tới cùng với Chân – Thiện – Mỹ.

Trần Văn Khuê, aa




Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

MẶT NẠ ÂN HUỆ


Ân huệ là đặc ân mà con người trao ban cho nhau. Nó là quà tặng quý giá. Tuy nhiên, hai từ “ân huệ” cũng có thể trở thành sáo ngữ và thái độ ngạo nghễ ghê tởm của kẻ ngạo mạn vô liêm sĩ, của kẻ độc tài, của kẻ theo (hay bị nhồi sọ bởi) chủ thuyết giáo điều cuồng tín và phi nhân. Ân huệ là bức màn phong của sự giết chết, bạo lực và hận thù. Không có gì khủng khiếp hơn sự thâm độc núp bóng ân huệ. Nó không còn là lòng bao dung, sự quý trọng, tình liên đới, sự chân thật, nhưng chỉ còn là mặt nạ.

Mặt nạ ân huệ là thứ quan hệ lợi ích. Đối tác là phương tiện, là công cụ hợp tác nhằm củng cố và tạo lợi ích cho nhau và cho nhóm quyền lợi cao hơn. Ân huệ là sự ngã giá và ăn chia sòng phẳng. Chấp nhận ân huệ là chấp nhận thỏa hiệp – thứ thỏa hiệp đen tối. Mối dây thỏa thiệp là bằng mọi giá và cho tới cùng. Cái bằng mọi giá và cho tới cùng nhiều lúc dẫn người ta tới tội ác.

Mặt nạ ân huệ là thứ lời văn bộc lộ con người thiếu lý trí và thiếu đạo đức. Đó là lời văn đại loại được trình bày trong lời tuyên án đối với anh em nhà Đoàn Văn Vươn : “thân nhân tốt”, “thành khẩn khai báo”, “VKS Hải Phòng đề nghị phạt ông này 5-6 năm tù, bằng nửa mức thấp nhất của khung hình phạt” ;  và quả thật, sau đó ông Đoàn Văn Vườn bị “phạt”, “tuyên phạt” 5 năm tù giam ! Một bản án 5 năm tù giam gây nhiều tranh cãi được trình bày cách đơn giản và ngắn gọn : “phạt”, “tuyên phạt”. Đối với nghành tư pháp Việt Nam đây là hình thức phạt “ân huệ” !

Đời sống xã hội của cộng đoàn nhân loại không thể được xây dựng trên mặt nạ ân huệ. Nó là sự dối trá che dấu tội ác, là toan tính hẹp hòi đến thù hận núp bóng lòng nhân giả tạo. Những giá trị nền tảng xây dựng cộng đoàn xã hội chỉ có thể là : TỤ DO, BÌNH ĐẲNG, CÔNG LÝ, SỰ THẬT và LÒNG NHÂN ÁI.

Trần Văn Khuê

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

ĐỜI SỐNG HUYNH ĐỆ


Nói về tình huynh đệ Ki-tô giáo (đời sống huynh đệ trong truyền thống Ki-tô giáo được đặt trên nền tảng Kinh Thánh), tôi đã có dịp tóm lược trình bày của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger trong cuốn sách của Ngài : “Tình huynh đệ Ki-tô giáo” (http://saokhue-saokhue.blogspot.fr/2012/02/tinh-huynh-e-ki-to-giao.html). Hôm nay tôi muốn trở lại đề tài này nhân “thông điệp” (lời đầu tiên) của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô gửi tới khách hành hương và thế giới tối ngày 13 tháng 03 vừa qua tại quảng trường thánh Phê-rô :  “Con đường của Giáo Hội tại Rô-ma cũng là con đường của Giáo Hội tại mọi miền trên toàn thế giới trong tình bác bái. Con đường huynh đệ, tình yêu và sự tin tưởng lẫn nhau. Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho nhau. Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thế giới đạt tới tình huynh đệ lớn lao.”

Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô sau đó đã chú thích ý nghĩa của hạn từ “huynh đệ” với Hồng Y đoàn. Tình huynh đệ không phải là “sự bình đẳng”, nhưng là “sự hài hòa” nơi đời sống cá nhân và cộng đoàn trong “sự giản dị” và “tiết độ”. Ý tưởng này bộc lộ cách trung thực tinh thần phan sinh (của thánh Phan-xi-cô, thành Át-xi-di), nhưng đồng thời hàm ý sự khác biệt căn bản với tư tưởng Mác-xít mà Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đã trình bày :

Trước khi đề cập tới ý tưởng về tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mác, chúng ta cần nhắc tới phong trào Ánh Sáng, được đánh dấu bởi cách mạng Pháp, là tiền đề cho phong trào cộng sản. Cách mạng Pháp đã khai sinh cho nước Pháp câu tuyên ngôn chung : tự do, bình đẳng, huynh đệ. Tuyên ngôn ngày xác định tình huynh đệ đồng quyền chính trị. Thật vậy, thiết lập lại quyền bình đẳng tự nhiên giữa tất cả mọi người là nguồn gốc của tình huynh đệ mà Cách mạng pháp nhắm tới.

Tư tưởng này làm tiền đề cho ý tưởng Mác-xít về tình huynh đệ mà từ “đồng chí” là biểu tượng. Tuy nhiên, chúng ta biết, trong tư tưởng Mác-xít, ý tưởng về Thiên Chúa như người Cha chung bị biến mất ; đồng thời ý tưởng về một nhân loại chung cũng mất tầm quan trọng. Tại sao vậy ?

Chúng ta thường lầm tưởng chủ nghĩa cộng sản đem lại một thế giới đại đồng. Ý thức hệ cộng sản thực sự lại không phải như vậy. Nếu như phong trào Ánh Sáng muốn xóa bỏ ranh giới của sự khác biệt, trong tư tưởng Mác-xít nhân loại lại được chia ra thành hai nhóm hoàn toàn đối chọi nhau: giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Điều này đặt thế giới vào hai thái cực khác nhau và chống lại nhau : một sự phân rẽ trong cùng nhân loại, một cuộc đấu tranh sinh tồn. Hệ quả là nó không thể đối xử với tất cả mọi người như anh em, nhưng chỉ với một số. Những người khác là địch !

Tại sao phải thực hiện con đường “huynh đệ” trong thế giới hôm nay trong cái nhìn về đời sống “hài hòa” mang tính “giản dị” và “tiết độ” ?

Đời sống huynh đệ không thể là ý tưởng thuần túy, hay hơn thế nữa thuộc phạm trù chủ thuyết không tưởng. Nó là cuộc sống trong đó yếu tính “giản dị” và “tiết độ” là căn bản. Tình huynh đệ được diễn đạt trong tính “giản dị” và “tiết độ” nơi đời sống qua các mối tương quan khác nhau : với con người và với vũ trụ. Nó không là sự trừu tượng, nhưng là sự cảm nhận bằng kinh nghiệm hiện sinh : giản dị và tiết độ trong cách sống, trong tiếp xúc, trong hoạch định và tổ chức đời sống, trong đời sống chung….

Với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật người ta đang thành công xây dựng thế giới vô hình lớn hơn nhiều so với thế giới thực. Người ta có thể liên hệ, liên lạc với người khác mà không cần biết họ đang ở đâu và không cần hiểu cảm xúc của họ như thế nào hay họ đang suy nghĩ gì. Điều nghịch lý là kỹ thuật, một mặt, có thể đơn giản hóa con đường “liên hệ” ; tuy nhiên, mặt khác, nó lại không thể hiện thực hóa mối tương quan gần gũi, không chỉ trong ý tưởng nhưng trong đời sống chung.

Đời sống huynh đệ mang tính “giản dị” và “tiết độ” thực tại hóa thế giới trong đó con người có thể chia sẻ với nhau cách chân thành, không “mưu lược”, không tính toán (toan tính). Quá “mưu lược”, quá “toan tính”, đời sống huynh đệ không còn chỗ đứng. Thay vào đó, “chiến lược”, “mưu mô” và tư tưởng quyền lực thống trị con người : con người có nguy cơ là nô lệ của chính nó !

Trần Văn Khuê, aa



Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM LÀM TÁI HIỆN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN


“Chiến tranh nhân dân” là sách lược được áp dụng cách hữu hiệu trong suốt các cuộc chiến ở Việt Nam. Nhân dân là lực lượng tiên phong ; nhân dân là đồn lũy ; nhân dân là “hậu phương” ; nhân dân là ngọn đầu đài và vật tế…. Nhân dân trở thành vừa là mặt trận “chiến lược” vừa là nạn nhân.

Gần đây các nhân sĩ Việt Nam đã “hưởng ứng” lời kêu gọi của Quốc hội Việt Nam hiện hành góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Tiếp theo sau đó là “Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam gửi Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 : nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp”, và “Lời tuyên bố của các công dân tự do”. Các khởi xướng này đã và đang thu hút hàng nghìn người Việt Nam trong và ngoài nước !

Trước “làn gió” mới này, Chính quyền hay đúng hơn là Đảng cộng sản cầm quyền Việt Nam xem chừng tỏ ra bối rối và trở lại sách lược “chiến tranh nhân nhân” : “chiến dịch” lấy chữ ký “quần chúng nhân dân” được phát động tại Sài Gòn nhằm tạo mặt trận số đông theo hình thức ! Điều đáng nói trong phần nội dung của “Phiếu lấy ý kiến nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” chỉ có một sự lựa chọn duy nhất cho nhân dân : “Đồng ý với toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (xin ghi nguyên chữ “ĐỒNG Ý” : …”. Thậm chí một số dân Sài Gòn cho biết rằng chính quyền địa phương chỉ yêu cầu dân ký và nộp lại “phiếu lấy ý kiến”, phần còn lại chính quyền sẽ lo (sic) !

Điều gì đã đưa đẩy nhà cầm quyền Việt Nam hôm nay – tự đặt mình ở hàng “đỉnh cao của trí tuệ nhân loại”, tới hành động vớ vẫn này thì chắc chắn nhiều người đã có câu trả lời. Đây quả là thách thức ngông cuồng của Chính quyền đối với các nhân sĩ, và là sự phỉ báng đối với nhân dân, dân tộc Việt Nam. Lịch sử sẽ có lời phán xét. Tuy nhiên, cho tới khi “thế hệ” này qua đi thì dân tộc Việt Nam sẽ đã đi về đâu ?

Nhân dân đã từng là “mặt trận đấu tranh” và sẽ còn là nạn nhân cho tới bao giờ trong sách lược “chiến tranh nhân dân” ?

Trần Văn Khuê

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN


Ngày càng nhiều người có khuynh hướng sống niềm tin cá nhân, ngay cả những người đã từng ngụp lặn trong đức tin Kitô giáo. Niềm tin là chuyện riêng tư và cá nhân trong thế giới mà trong đó chủ nghĩa cá nhân lên ngôi. Đời sống tôn giáo được hoàn toàn quy về “tự do lương tâm cá nhân” : niềm tin cá nhân. Cũng chính vì thế mà người ta rất dè dặt nói về niềm tin hay đời sống đức tin của mình và của người khác. Mặt khác, “tự do tín ngưỡng” gắn liền với quyền cơ bản con người đặt ranh giới cho phạm vi cá nhân và công chúng.

Đức tin Kitô giáo về bản chất lại hoàn toàn khác. Nó được đặt nền tảng trên ân sủng và đời sống ân sủng được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần trong cuộc sống hiện tại.

Truớc hết, đức tin là ân sủng trao ban đến từ Thiên Chúa. Đức Giêsu nói với Phêrô : “Mạc khải này đến với con [sự hiểu biết của Phêrô về Đức Giêsu là Đấng Kitô (Đấng ban ơn cứu độ)] không phải từ xác thịt và máu huyết, nhưng từ Cha của Thầy ở trên trời” (Mt 16,17). Cũng trong mạch tư tưởng này thánh Gioan viết : “Không ai đến được với Ta nếu Cha Ta đã sai Ta không lôi kéo nó” (Ga 6,44). Đời sống đức tin nơi người Kitô hữu là đời sống được Thiên Chúa lôi cuốn để trở nên chính mình trong Ngài. Đó là đời sống bị cuốn hút mở ra với sự siêu việt của Thiên Chúa. Con nguời khao khát (được lôi cuốn) “hướng về” Đấng là nguồn mạch sự sống, như kinh nghiệm của thánh Augustinô : “Lạy Chúa, tâm hồn chúng con hằng khắc khoải cho tới khi tìm được sự yên nghỉ trong Ngài” (Tự Thuật, I,1,1).

Mặt khác, đức tin lại mang chiều kích xã hội. Đời sống đức tin bao hàm sự hiệp thông và liên đới. Đó là đức tin sống động theo Tin Mừng mà Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong thông điệp của mình, Spe salvi (Về niềm hy vọng Kitô giáo) viết : “Tin Mừng Kitô giáo không những mang tính chất “thông tin”, nhưng còn mang tính “kích động” – có nghĩa là : Tin Mừng không những chia sẻ những điều có thể hiểu biết, nhưng còn là một sự chia sẻ đưa đến hành động và biến đổi cuộc đời” (số 2). Hiệp thông và liên đới được sống trong cộng đoàn đức tin cũng như với mọi người thành tâm tìm kiếm chân lý và điều thiện trong đời sống. Người sống đời sống ân sủng của Thiên Chúa không thể thờ ơ với cuộc sống của người khác hay dửng dưng trước những gì đang đe dọa cuộc sống con người. Việc dấn thân trong đời sống xã hội và cho con người không phải được thúc đẩy bởi động lực chính trị hay đơn giản là nỗ lực tìm kiếm nước trời (sự đánh đổi), nhưng cách sâu xa như thánh Phaolô nói : “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”. Tình yêu đó là tình yêu mà Đức Giêsu tuyên bố : “Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Sống trong chân lý Tin mừng này các Kitô hữu không sợ sai lầm trong việc dấn thân trong thế giới hôm nay và ngày mai.

Trần Văn Khuê, aa

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

TRỞ VỀ VỚI KHIÊM TỐN


Bạn sẽ nực cười khi nghe tôi nói trở về với khiêm tốn ? Đơn giản chỉ vì, có lẽ bạn cũng như tôi từng là người ít nhiều “ngạo mạn” theo cách nhìn nào đó ? Tôi và bạn chưa bao giờ chấp nhận chịu sự khuất phục vì khả năng vốn có ? Khiêm tốn là điều chưa ai mong muốn bao giờ, bạn và tôi !

Hơn nữa, cái cách “khiêm tốn” nhiều lúc lại bị xem là núp bóng “kiêu hãnh”. Người ta vẫn thường nói đùa : “Một lần khiêm tốn bằng bốn lần tự mãn” ! Kiểu nói bông đùa ẩn chứa việc coi thường sự khiêm tốn : khiêm tốn chẳng có gì tốt đẹp.

Tuy nhiên, không biết bạn đã từng bị xúc động do hành vi hay lời nói khiêm tốn của ai đó ? Tôi thực sự bị ấn tượng bởi sự kiện của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI.

Trong lần xuất hiện trước công chúng đầu tiên vào ngày 17 tháng 02 vừa qua, sau khi tuyên bố thoái vị sứ vụ Giám mục Rôma, người kế vị thánh Phêrô, ngài nói : “chúng ta cần phải khiêm tốn hơn”[1]. Người, với tư tưởng uyên thâm và cũng từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau cho tới ngày lên ngôi Giáo hoàng, đã có cung cách nói rất mực khiêm tốn ở tuổi 85 : “chúng ta cần khiêm tốn hơn”. Có lẽ những suy tư và cuộc sống kinh qua đã đưa ngài tới cảm nghiệm sâu xa về điều chính yếu : “cần phải khiêm tốn hơn”.

Tôi ví cuộc sống là điểm giao thoa giữa ba chiều kích : cao, sâu và rộng. Chỉ khiêm tốn cho phép chúng ta nối kết ba chiều kích này.

Nhờ khiêm tốn chúng ta có khả năng đi vào chiều sâu của cuộc sống chính mình. Đó không phải là cuộc sống hời hợt, hình thức, bề ngoài, hoang tưởng và ngông cuồng, nhưng là sự cảm nhận sâu xa con người đích thực vừa lớn lao, vừa nhỏ bé. Khiêm tốn là sự hiểu biết chính mình hoàn hảo.

Nhờ khiêm tốn cuộc sống chúng ta mới có thể trải rộng. Nó là sự trải rộng trong mối tương quan con người với nhau và với vũ trụ. Khiêm tốn là sự cảm thông ; khiêm tốn là lòng kính trọng ; khiêm tốn là sự ngưỡng mộ. Khiêm tốn là sự hiểu biết người hoàn hảo.

Nhờ khiêm tốn mà chúng ta có thể bay cao. Sự thanh thoát nhờ có khiêm tốn. Khiêm tốn đặt niềm tin vào điều cao quý hơn nó, lớn lao hơn nó và siêu việt hơn nó. Khiêm tốn là sự lôi cuốn về chốn vô biên vượt không gian và thời gian.

Tới đây chắc bạn đã hiểu ít nhiều lý do tại sao tôi muốn nói cùng bạn là trở về với khiêm tốn. Trở về với khiêm tốn không phải là con đường tự hủy diệt vong, nhưng là cuộc sống sung mãn nơi chính mình và xung quanh mình.

Trần Văn Khuê, aa





[1] Cách trình bày lại của người viết từ bài chia sẻ của ĐGH Bênêđíctô XVI với khách hành hương ở quảng trường thánh Phêrô trước giờ đọc Kinh Truyền Tin, ngày 17 tháng 02 năm 2013.