Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Thông điệp chung của các nhà lãnh đạo Chính thống giáo Nga và Công giáo Ba Lan

WHĐ (21.08.2012) / CNS – Ngày 17 tháng Tám vừa qua, vị đứng đầu Giáo hội Chính thống Nga và Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Ba Lan đã ký một Thông điệp chung thúc giục người Ba Lan và người Nga bỏ qua những thù hận và thành kiến từ nhiều thế kỷ nay và cùng nhau gìn giữ căn tính Kitô giáo của đất nước mình.
Việc ký kết Thông điệp hòa giải mang tên “Thông điệp gửi nước Ba Lan và nước Nga” là thời điểm quan trọng của chuyến viếng thăm của một thượng phụ Chính thống Nga đến nước Ba lan hiện đại lần đầu tiên.
Thông điệp –mang chữ ký của Đức Thượng phụ Kirill của Matxcơva và Đức Tổng giám mục Jozef Michalik Przemysl, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ba Lan– viết: “Chúng tôi bước vào một con đường đối thoại trung thực với hy vọng rằng nó sẽ chữa lành những vết thương của quá khứ, tạo điều kiện thuận lợi để vượt qua những định kiến ​​và hiểu lầm lẫn nhau và giúp chúng tôi vững bước theo đuổi công cuộc hòa giải”.
Buổi lễ ký kết đã được phát sóng trực tiếp trên đài truyền hình Ba Lan.
Các viên chức Chính thống Nga và Công giáo Ba Lan đã chuẩn bị bản văn này trong hơn hai năm trong một nỗ lực vượt qua mối hận thù lịch sử giữa hai quốc gia và những căng thẳng kéo dài giữa các tín hữu của Giáo hội Chính thống Nga và Giáo hội Công giáo Ba Lan.
Một lịch sử tranh chấp lãnh thổ lâu dài đã trở nên phức tạp hơn trong Thế chiến II khi Ba Lan bị cả Đức và Nga xâm lược. Sau chiến tranh, Ba Lan bị đặt dưới ảnh hưởng của Liên Xô. Dưới chế độ cộng sản, các Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo phải chịu áp lực của chính phủ, với thiểu số người Chính thống ở Ba Lan và thiểu số người Công giáo ở Nga bị đối xử rất khắc nghiệt.
Thông điệp hoà giải nói: “Tội lỗi, vốn là nguồn gốc chính của mọi chia rẽ và sự yếu đuối của con người, của tính ích kỷ cá nhân và tập thể, cũng như của áp lực chính trị, đã dẫn đến sự tha hóa lẫn nhau, sự thù địch công khai và cả tranh chấp giữa hai quốc gia chúng ta”.
“Những trường hợp tương tự đã sớm làm mất đi sự hiệp nhất Kitô giáo ban đầu. Sự chia rẽ và ly giáo, vốn xa lạ với ý Chúa Kitô muốn, là một gương xấu lớn; vì thế chúng ta phải nỗ lực gấp đôi để Giáo hội và quốc gia của chúng ta đến gần nhau hơn và để trở nên những nhân chứng khả tín hơn đối với Tin Mừng trong thế giới hiện nay”.
Đức Thượng phụ Kirill và Đức Tổng giám mục Michalik cho biết, với sự tự do tôn giáo và chính trị có được khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ hồi đầu những năm 1990, các Giáo hội tiến bước trên con đường đổi mới, nhưng vẫn phải đối mặt với những ảnh hưởng của nhiều thập kỷ của chủ nghĩa vô thần chính thức và chủ nghĩa thế tục phát triển của xã hội hiện đại.
Hai nhà lãnh đạo cho biết, Thiên Chúa giáo “đã tác động sâu sắc” đến bản sắc, tâm linh và văn hóa của các dân tộc chúng ta và của cả châu Âu”, và gìn giữ đức tin Kitô giáo là điều cần thiết cho tương lai của các quốc gia.
Thông điệp viết: Các Giáo hội và các tín hữu phải “nỗ lực làm cho đời sống xã hội và văn hóa của các quốc gia của chúng ta không mất đi các giá trị đạo đức chính yếu, là nền tảng của một tương lai hòa bình vững chắc”.
Vị Thượng phụ và Tổng giám mục cũng quan tâm đặc biệt đến xu hướng đòi cho phá thai, an tử và quan hệ đồng tính, cũng như những vận động loại bỏ biểu tượng tôn giáo tại các nơi công cộng.
Thông điệp nêu rõ: Nhân danh tương lai quốc gia chúng ta, chúng ta kêu gọi tôn trọng và bảo vệ cuộc sống của mỗi con người từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên. Chúng ta tin rằng không chỉ chủ nghĩa khủng bố và xung đột vũ trang, mà cả phá thai và an tử cũng là trọng tội đối với sự sống và là điều ô nhục cho nền văn minh đương đại”.
Đức Thượng Phụ Kirill và Đức Tổng giám mục Michalik nói rằng các ngài thừa nhận quyền tự trị của Giáo Hội và nhà nước, đồng thời các ngài cũng khuyến khích hai bên hợp tác để bảo vệ gia đình, thúc đẩy giáo dục và trợ giúp người nghèo.
Gia đình, dựa trên mối quan hệ bền vững giữa một người nam và người nữ, “là một nền tảng lành mạnh của mọi xã hội. Là một định chế được Chúa thiết lập, gia đình bảo đảm sự tôn trọng và bảo vệ vì nó là cái nôi của sự sống, một nơi phát triển lành mạnh, một bảo đảm cho sự ổn định của xã hội, và là một dấu hiệu hy vọng cho xã hội”.
(CNS, 17-08-2012)
Nguồn: WHĐ

CON NGƯỜI VÀ KHẢ NĂNG ĐI TÌM CHÂN LÝ

Các suy tư thần học Công giáo cũng như triết học Ki-tô giáo đề cao những phẩm giá con người. Vốn dĩ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người mang nơi mình những phẩm chất cao đẹp và bất khả xâm phạm. Mặt khác, vì được sinh ra từ Thiên Chúa nên con người luôn bị lôi cuốn để tìm kiếm về với Ngài dù bị tội lỗi thống trị. Con người phát xuất từ Thiên Chúa là nguồn của mọi sự thiện hảo và là Chân lý tuyệt đối, vì thế con người cũng luôn biết tìm kiếm những điều thiện hảo và chân lý trong cuộc sống như lời nguyện của Hội Thánh trong nghi thức phụng vụ : “Thiên Chúa đặt để trong trái tim con người khát vọng đi tìm chân lý”. Xác tín này bắt nguồn từ Kinh Thánh và truyền thống suy tư triết học và thần học như thánh Augustinô và Tôma Aquinô.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện tại của xã hội chúng ta hình như điều trên đây chỉ là thuần túy suy tư tri thức và sự hiểu biết được dừng lại nơi các nhà trí thức. Khoảng cách giữa những suy tư thần học và triết học về khả năng tìm kiếm chân lý và những giá trị cao siêu của con người đối với một đại bộ phận dân chúng là một khoảng cách xa vời vợi. Cách sống của nhiều người trong xã hội chúng ta nhiều khi phản ánh ngược lại với những xác tín của triết học và thần học.
Con người có khuynh hướng đam mê những dục vọng và tìm kiếm những gì thuộc về hạ giới nhiều hơn là đi tìm những giá trị siêu việt. Con người mấy thiết tha tìm kiếm những gì là chân thật, hơn nữa đó lại là những điều chân thật ngăn cản những khoái cảm ? Mặt khác, con người cũng dễ bị mê hoặc bởi các chủ thuyết không tưởng và dấn thân trong sự hoang tưởng. Trong chiều dài của lịch sử nhân loại chúng ta nhận thấy một số chủ thuyết đã đưa con người tới những lệch lạc trong đời sống ; nhiều người vẫn tin rằng mình đi theo chân lý trong những điều không tưởng.
Thực tế trên đây cho chúng ta hiểu rằng không nên quá tin vào con người như hữu thể có khẳ năng tự xác định các chân lý phổ quát và luôn biết tìm kiếm những chân giá trị. Con người có khả năng hoán cải và biến đổi, nhưng con người cần được soi chiếu và hướng dẫn bằng một năng lực ngoài nó để có khả năng chân nhận những gì là chân thật. Đó cũng là điều mà Ki-tô giáo trình bày rằng con người chỉ có thể nhận biết Thiên Chúa là nguồn của mọi sự thiện hảo và là Chân lý tuyệt đối vì chính Ngài trước tiên đã mạc khải cho con người biết về Ngài.
Việc con người cần một năng lực ngoài nó để có khả năng chân nhận những gì là chân thật còn nói lên rằng con người là hữu thể thừa kế : thừa kế những giá trị truyền thống và cần được giáo dục một cách đúng đắn. Bởi lẽ, con người dễ bị lừa dối !
Trần Văn Khuê, aa


DÒNG ĐỜI

Những con đường chen chúc người người ngược xuôi. Mỗi người một vẻ cứ vội vàng bất chấp nắng mưa hay thời gian. Tôi và bạn khó mà đoán được những suy nghĩ trong tâm trí của người khác. Họ đang suy nghĩ gì theo những bước di chuyển ? Những ưu tư nào đang canh cánh bên lòng họ ? Họ đang vô tư với cuộc sống trong những giây phút hiện tại hay đang mang nơi mình những thao thức, những buồn phiền ?
Tôi đặt nhiều câu hỏi, nhưng không dám đưa ra bất cứ câu trả lời nào. Tôi biết rằng suy nghĩ của tôi bây giờ không phải suy nghĩ của người khác và những ưu tư của tôi lúc này cũng không chắc là những ưu tư của người khác. Tuy nhiên, qua phán đoán tôi cho rằng những suy nghĩ trong tâm trí con người chắc hẳn phải thật sự đa dạng. Có những ưu tư cho cuộc sống cá nhân ; có những ưu tư cho cuộc sống chung ; có những ưu tư cho cuộc sống gia đình ; và có những ưu tư cho thời cuộc …. Những ưu tư vui buồn lẫn lộn.
Triết học chắc là có lý khi cho rằng những câu hỏi của con người là muôn thủa, đặc biệt là những câu hỏi hiện sinh về ý nghĩa cuộc sống con người hôm nay và tương lai. Con người không bao giờ hết ưu tư và không ai lại không ưu tư dù ít hay nhiều. Con người đi trong dòng đời với những suy nghĩ miên man về cuộc sống. Dòng đời là sự pha hợp giữa ưu phiền và hy vọng, vui mừng và lo âu của con người. Con người được sinh ra hình như cho cả niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại. Tất cả là định mệnh cho con người.
Dòng đời có thể là bệ phóng cho những người tìm kiếm và đạt tới sự giải thoát, nhưng cũng có thể là cái mồ chôn sống con người. Định mệnh không tùy thuộc vào cái kiếp của một con người nhưng lòng can đảm. Nhưng, ai có đủ can đảm ? Lòng can đảm được xem là một nhân đức mà con người có thể tu luyện, nhưng đòi hỏi một cuộc chiến đấu bền bỉ. Dòng đời là nơi mà người ta thực sự cần có sự can đảm để đạt tới sự giải thoát.
Con người hướng tới sự giải thoát là con người sống chứ không phải tồn tại. Sự tồn tại thuộc về thế giới vật chất vô tri vô giác. Sống thuộc về sinh vật có lý trí và lương tri. Con người được sinh ra để sống chứ không phải để tồn tại. Đó chính là sự khác biệt làm nên tính chất đặc thù con người.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

CUỘC SỐNG LÀ ÂN HUỆ

Người Pháp sử dụng hai từ DON (ân huệ) và CADEAU (quà tặng) để cùng nói về những gì mà người ta nhận được từ người khác. Tuy nhiên, hai từ này lại mang ý nghĩa riêng biệt. Một cái quà tặng có thể là một ân huệ, nhưng một ân huệ lại không nhất thiết là quà tặng !
Quà tặng là cái gì miễn phí. Nó tùy thuộc người nhận muốn đón nhận và sử dụng : người ta có thể chấp nhận một quà tặng hoặc không và người ta cũng tùy thích sử dụng nó như thế nào theo ý muốn. Trong khi đó ân huệ lại không tùy thuộc vào người đón nhận. Nó đến ngoài sự tính toán và ý muốn của người đón nhận. Ân huệ nhiều lúc trở nên đắt giá cho người đón nhận nó.
Cuộc sống là một ân huệ, chứ không phải là một quà tặng. Cuộc sống hiện hữu nơi đời sống con người không phải như một quà tặng mà là một ân huệ. Nó không phụ thuộc nơi con người, nhưng khi con người sinh ra thì đã có nó. Nó có đó và tồn tại cùng với con người. Nó là cái gì đắt giá đối với con người. Người ta không thể tùy ý sử dụng hay không sử dụng như một món quà vì nó không tùy thuộc nơi con người. Cuộc sống vượt khỏi những ý nghĩ và toan tính của con người. Đó cũng là điều làm nên những kỳ thú của cuộc sống. Mỗi người sinh ra và đi vào trong thế giới này với những gì có trước nó và con người còn tiếp tục tìm hiểu và khám phá những gì đến sau nó (tương lai). Đời sống con người là một cuộc thám hiểm. Trong cuộc hành trình này con người không thể tự mình định đoạt mọi sự cho dù nó đóng một vai trò lớn trong việc hoàn thành cuộc sống. Điều mà chúng ta thường nghe những người khác nói : cuộc sống này là của tôi, con người này là của tôi và tôi hoàn toàn tự do định đoạt số phận của tôi chỉ là điều không tưởng.
Cuộc sống là một ân huệ nên nó chống lại tất cả mọi sự áp đặt, cưỡng bức và chiếm đoạt đến từ sự độc đoán và độc tài của con người. Người ta không thể nhân danh bất cứ cái gì như tự do cá nhân, các khuynh hướng tư tưởng triết thuyết và chính trị … để ngăn chặn cuộc sống. Và tất nhiên, đó là việc làm không tưởng ! Cuộc sống vẫn mãi là chính nó và là ân huệ cho hết mọi người.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

NGƯỜI VIỆT NAM HẠNH PHÚC THỨ NHÌ THẾ GIỚI

Cách đây hai tuần (Chúa nhật, ngày 17 tháng 06 năm 2012) trang báo điện tử vnexpress.net đăng báo cáo của Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam đứng thứ hai trong bảng xếp hạng Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) của năm 2012[1].
Chỉ số đánh giá dựa trên ba tiêu chí : “mức độ hài lòng với cuộc sống”, “tuổi thọ trung bình” và “dấu chân sinh thái”. Không biết mọi người đón nhận “tin vui” này như thế nào, nhưng về phần mình tôi nghi ngờ tính chính xác của bản báo cáo xếp hạng này.
Vị trí thứ hai của Việt Nam (những người hạnh phúc thứ nhì thế giới) dựa theo ba tiêu chí trên đây chắc hẳn là siêu tuởng.
Trước hết, về “mức độ hài lòng với cuộc sống”. Chưa có một cuộc thăm do dư luận chính thức nào được thực hiện tại Việt Nam để xác định “mức độ hài lòng với cuộc sống” của người dân. Quả thật, nếu có một “mức độ hài lòng với cuộc sống” của người Việt Nam vượt lên trên những quốc gia khác thì nó chỉ thuộc về một thành phần thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi trong bối cảnh xã hội hôm nay. Mặt khác, nếu có hay chăng nữa ý kiến tích cực của người dân thì cũng phải nhìn nhận “mức độ hài lòng với cuộc sống” ở khía cạnh nào : có thể là người dân hài lòng hơn so với thời kỳ chiến tranh và bao cấp ? Thực tế thì nhiều người vẫn bất mãn với những bất công bằng xã hội sâu đậm, kinh tế ngày càng khó khăn và tham nhũng tràn lan trong xã hội chúng ta hôm nay.
Tiếp đến, về “tuổi thọ trung bình”. Một điều chắc chắn là tuổi thọ trung bình của người Việt Nam không thể vượt qua người dân của các nước châu Âu, châu Mỹ và một số nước châu Á. Tỷ lệ người trẻ ở Việt Nam lớn hơn bất cứ quốc gia nào là một trong những yếu tố xác định về điều này. Đó là chúng ta chưa kể đến những yếu tố khác như tỷ lệ trẻ em chết sau khi sinh, tai nạn giao thông ở mức cao….
Cuối cùng, về “dấu chân sinh thái”. Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với hệ sinh thái đa dạng. Nhiều người ngoại quốc ngưỡng mộ những cảnh thiên nhiên trù phú của Đất nước chúng ta. Nhưng, từ thực tế chúng ta biết Việt Nam là một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. Về vấn đề này chúng ta chỉ cần tra cứu lại những đánh giá của các chuyên gia về môi trường Việt Nam thì sẽ có một cái nhìn xác thực. Hơn nữa, không cần phải có những đánh giá khoa học, bằng những quan sát thực tế với óc phê bình chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.
Những lời trên đây không nhằm khích bác, nhưng chúng ta cần phải thực tế hơn để nhằm xây dựng Quê hương mỗi ngày một tốt. Nhiều người cho rằng một trong những sai lầm của việc giáo dục là các em học sinh của chúng ta luôn được học : “Đất nước ta giàu và đẹp, rừng vàng biển bạc.” Chính điều này vô tình đã ru ngủ những thế hệ trẻ. Điều tệ hại nhất trong tất cả những điều tệ hại là chúng ta tự ru ngủ mình trên những ảo tưởng.
Trần Văn Khuê, aa



[1] http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2012/06/nguoi-viet-hanh-phuc-thu-nhi-the-gioi/ (CN, 17/06/2012)

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

LÒNG NHÂN ÁI

Nhiều người hoang mang vì những cảnh đời trái ngược. Bạo lực và sự hận thù đang ngày càng leo thang ; sự áp bức đang hoành hành trong “xã hội văn minh” ; điều ác và người làm điều ác hình như đang chiếm ưu thế. Người ta tự hỏi : thế rồi người lương thiện nhận được gì, nếu không đó chỉ là sự bất công và thiệt thòi trong đời sống xã hội ? Có những câu chuyện làm chúng ta cười ra nước mắt liên quan đến những kẻ bất nhân bất nghĩa thì thị uy ; người bất tài, bất học lại là những kẻ hoạch định và ra lệnh cho người khác. Những câu hỏi, những chất vấn đưa người ta vào ngõ cụt là sự thất vọng.
Thất vọng là điều dễ hiểu. Không thất vọng sao được khi mà những hình ảnh trái ngược như là định mệnh con người. Người đời nói : “Anh hùng tạo thời thế”, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại “thời thế” bóp chết anh hùng. Sự thất vọng làm mất nhuệ khí của nhiều người. Họ phó mặc cho cuộc sống và sống cam chịu một cách bắt buộc. Cuộc sống trở thành cái chết êm dịu căy nghiệt.
Tuy nhiên, chúng ta xác tín rằng cho dù có nhiều điều ác trong đời sống xã hội thì cuộc sống con người chỉ được xây dựng trên những gì là thiện hảo. Một trong những điều thiện hảo nơi cuộc sống con người là LÒNG NHÂN ÁI.
Lòng nhân ái là “đắc nhân tâm”. Nhiều người tìm cách học biết những phương pháp để chinh phục người khác : “đắc nhân tâm”. Những phương pháp nhiều lúc làm cho người ta trở thành giả hình giả tạo với người khác. Đó là những thứ mơn trớn thiếu chữ nhân. Không có phương pháp nào chinh phục con người cách đúng đắn ngoài lòng nhân ái. Lòng nhân ái là chân thật ; nó đối xử với mọi người theo cùng một thể thức cách chân thật.
Lòng nhân ái là trí tuệ. Đỉnh cao trí tuệ của nhân loại là lòng nhân ái, nơi đó người ta không còn phân chia ra hai thế giới “bạn” và “thù”, “ta” và “địch”. Với trí tuệ là lòng nhân ái người ta không còn nhìn thế giới xung quanh chỉ là những “thế lực thù địch”. Sự tru diệt lẫn nhau không phải là đỉnh cao của trí tuệ là lòng nhân ái. Trí tuệ là khả năng hiểu biết về lòng nhân ái ; đây mới đích thực là trí tuệ con người.
Lòng nhân ái xoa dịu những vết thương đau con người. Không có bất cứ một phương dược nào có khả năng chữa lành cách phi thường những vết thương con người như lòng nhân ái. Thiếu lòng nhân ái con người dễ bị tổn thương và sụp đổ.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

SỰ THẬT GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

Một điều trái nghịch khôi hài là trong thế giới “phẳng” hôm nay mọi cái có thể dễ dàng được minh bạch hóa, nhưng người ta lại khó xác định sự thật. Chính vì thế mà người ta vẫn cứ ở trong cái bức tranh tối sáng và do dự xác định chắc chắn con đường đi.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng sống giữa thanh thiên bạch nhật nhưng người ta lại không thể phân biệt trắng đen là do chủ thuyết tương đối. Não trạng của con người đương thời chịu ảnh hưởng một cách sâu đậm bởi chủ thuyết này. Người ta đặt vấn đề có hay chăng sự thật phổ quát duy nhất hay chỉ có những sự thật riêng lẽ. Bởi lẽ, sự thật của anh không phải là sự thật của tôi và ngược lại. Trong thế giới của chủ thuyết tương đối người ta san bằng những giá trị và những chuẩn mực chân lý. Đó là lý do làm cho nhiều người do dự khẳng định sự thật. Sự do dự này xuất phát từ tư tưởng không muốn sai lầm trong nhận định và đánh giá, cũng như tư tưởng trung dung dưới nhãn hiệu của lòng “bao dung”. Cái nguy hiểm của thái độ này khiến người ta không còn có khả năng xác định những gì là chân thật nơi cuộc sống con người.
Nguyên nhân tiếp theo làm cho con người khó khẳng định sự thật là có quá nhiều gian dối trong đời sống xã hội. Cái triết lý dân gian Việt Nam : “Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm” đang trở nên một thứ triết lý sống phi nhân văn và quá thực dụng. Triết lý sai lệch do hoàn cảnh này đang lan tỏa một cách mạnh mẽ trong xã hội ở giai đoạn tranh sáng tranh tối mà trong đó đời sống vật chất ở thế thượng phong : cần phải chiếm hữu bằng mọi giá. Đó là thứ tư tưởng : “vật chất trước tinh thần”.
Một nguyên nhân khác nữa xuất phát từ kinh nghiệm hiện sinh về những cuộc đổ vỡ trong các mối tương quan con người và xã hội. Người ta phải dè chừng với bất cứ ai và cũng không thể thổ lộ hết những gì mình suy nghĩ với hết mọi người. Người ta giữ kẽ, người ta dè chừng, người ta cẩn trọng, người che dấu và thậm chí người ta phải câm miệng vì lo sợ những rủi ro và nguy hiểm.
Khi giảng dạy cho những người Do-thái, Đức Giê-su đã khẳng định : “Sự thật giải phóng con người” (x. Ga 8,32). Ngữ cảnh của câu nói này cho chúng ta hiểu hai điều. Trước hết, sự gian dối giam hãm con người trong tội lỗi. Và khi con người bị nô lệ tội lỗi thì con người không có tự do. Thông điệp tiếp theo từ câu Tin Mừng này là chỉ có Thiên Chúa – Chân Lý trường cửu, giải phóng con người.
Thật vậy, từ cái nhìn của ý nghĩa thứ nhất, không ai có thể phủ nhận lời này là chân lý, đúng cho tất cả mọi tình huống và hoàn cảnh sống con người : chỉ có sự thật giải phóng con người. Cho dù hôm nay chúng ta nhận thấy có nhiều điều ác nơi đời sống con người, nhưng thế giới này chỉ có thể được xây dựng từ những điều thiện ; cho dù xã hội này có đầy dẫy những sự gian dối, nhưng nó chỉ có thể được đứng vững trong sự thật. Mặt khác, sự thật làm nên phẩm chất đời sống con người. Từ kinh nghiệm hiện sinh chúng ta nhận biết không có cuộc sống con người hạnh phúc nào sống trong sự gian dối, nếu không chỉ là sự bất an triền miên. “Sự thật giải phóng con người”. Nó giải phóng con người khỏi sự bất an và lo lắng trong tâm hồn.
Từ cái nhìn của ý nghĩa thứ hai trong câu nói của Đức Giê-su, cuộc sống của người Ki-tô hữu chỉ có thể trở nên viên mãn khi bắt gặp Đấng “là Đường, là Sự thật và là Sự sống”. Sự Thật tối thượng của họ chính là Thiên Chúa. Chính Ngài giải phóng con người. Vì vậy, khi được thúc đẩy bởi Đấng “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” họ sẵn sàng sống cho Sự Thật vẹn toàn.
Trần Văn Khuê, aa