Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2011

NHỮNG HÌNH ẢNH NÀY NÓI LÊN ĐIỀU GÌ?


Bất cứ hình thức bạo lực nào đều nói lên một sự bất ổn của đời sống xã hội. Sự bất ổn này không chỉ được hiểu trong phạm vi an ninh xã hội và chính trị : bạo lực đồng nghĩa với việc mất an ninh. Bạo lực còn hàm chứa vấn đề đạo đức và pháp lý.
Hình ảnh trên đây của những đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực người lớn. Các bé là nạn nhân của người sinh thành, của ông chủ và của chính người đại diện pháp luật. Chúng ta đọc biết những câu chuyện này trên báo chí : bé Nguyễn Hào Anh, 14 tuổi, đã bị vợ chồng chủ trại tôm giống Minh Đức, Cà Mau, hành hạ trong suốt thời làm việc cho đôi vợ chồng này ; bé Bùi Xuân Thuận, 11 tuổi, bị chính cha ruột của mình dạy cho những bài học bằng roi điện và “bắt phải ăn phân người” chỉ vì một lần bé không ăn cơm ; bé Hồng Anh, 4 tuổi, bị người “bố hờ” của mẹ bạo hành liên tục trong thời gian dài ; bé Ngô Đình Phát, 11 tuổi, bị đánh đập dã man ngay tại trụ sở công an phường Thủy Xuân, tp Huế.

Hình ảnh của những em bé trên đây đại diện cho nhiều đứa trẻ khác vẫn tiếp tục bị người lớn hành hạ dưới nhiều hình thức khác nhau. Những câu chuyện thương tâm, dã man, xem chừng chỉ xuất hiện trong phim, lại được bắt gặp nơi đời sống thực.

Các câu chuyện về những đứa trẻ bị hành hạ đặt vấn đề về đạo đức và pháp lý trong xã hội của chúng ta.

Các câu chuyện thật được kể lại với những tình tiết tra tấn bằng roi điện, bằng kềm …, cho thấy lương tâm con người đã trở nên cặn đục. Không chỉ thủ phạm gây nên những vết thương làm kinh hoàng mọi người, mà còn những người chứng kiến cảnh tượng đó cũng chỉ phản ứng một cách yếu ớt để rồi tình trạng bạo lực man rợ cứ thế kéo dài. Đâu là lương tâm của sự liên đới và trách nhiệm nơi chúng ta khi mà chúng ta không có khả năng ngăn chặn bạo lực ?

Hệ thống luật được làm ra không ngoài mục đích là bảo vệ con người, đặc biệt là những ai không thể tự bảo vệ mình. Bạo lực trong những trường hợp trên đây không chỉ là vấn đề đạo đức, mà còn vấn đề luật pháp. Nó can thiệp quá trễ sau khi những đứa trẻ đã hoàn toàn mang nơi mình những thương tật (thể xác và tinh thần) một cách trầm trọng. Hơn nữa, điều thật sự khôi hài là chính luật pháp lại chà đạp lên phẩm giá con người như trường hợp của bé Ngô Đình Phát, bị đánh đập tại trụ sở công quyền.

Tóm lại, hình ảnh này nói cho chúng ta điều gì ? Quả thật, nó nói lên nhiều điều trong đời sống xã hội của chúng ta : lương tâm con người cặn đục, nền giáo dục nhân văn thiếu nền tảng, tính chất đạo đức xã hội bị biến chất, một nền pháp luật không coi trọng đủ con người, và BẠO LỰC CỦA QUYỀN HÀNH LÊN NGÔI.

Trần Văn Khuê, aa



Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011

ĐỐI KHÁNG : MỘT YẾU TÍNH CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

Có lẽ nhiều người sẽ nghi ngờ về tính chính đáng của tựa đề bài viết này, vì hình như nó chứa đựng yếu tố nghịch lý : đối kháng là một yếu tính của sự phát triển. Sự nghi vấn này có thể đến từ những lý giải khác nhau mang tính khách quan.
Trước hết, một cách tự nhiên, người ta thường tìm kiếm những gì là bình yên và phẳng lặng trong đời sống, không sóng gió, không tranh chấp, không xung đột. Quả thật, triết lý : “Dĩ hòa vi quý” (lấy sự hòa hợp với nhau làm trọng) vẫn được nhiều người Á đông xem là lẽ sống đích thực.
Hơn nữa, từ thực tiễn, việc đối kháng gây nên những cuộc xung đột làm bất ổn đời sống xã hội và chính trị trên thế giới. Những xung đột đã gây nên các cuộc bạo động và chiến tranh. Hình ảnh này khuyến cáo người ta tránh rơi vào sự đối kháng gây xung đột.
Cuối cùng, sự đối kháng có nguy cơ làm lung lay một thể chế, một quyền lực. Chính vì thế mà người ta tìm cách loại trừ đối kháng bằng mọi phương tiện có thể.
Tuy nhiên, mặt khác, sự thiếu vắng đối kháng nhiều lúc lại làm đời sống xã hội cũng như nhiều người trở thành một mảnh đời bình lặng, thiếu lý trí : chấp nhận những điều luật, những quy định vô điều kiện. Điều này dẫn tới một đời sống nhu nhược, hèn nhát, thiếu cầu tiến. Đây được xem như là cái chết êm dịu đối với đời sống con người và xã hội.
Thực sự, chúng ta không đi tìm sự đối kháng như một thứ triết lý tuyệt đối và tôn thờ nó, nhưng chúng ta lại không thể loại trừ nó vì những lý do khách quan.
Tính đối kháng gắn liền với sự phát triển tâm sinh lý con người :
Ngay từ ban đầu, tính đối kháng gây xung đột tồn tại nơi mỗi con người. Nó phát sinh từ các xung năng và thiên hướng khác nhau của con người. Những xung năng và thiên hướng này rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, cuộc tranh đấu đối với các xung năng được xác định một bên là lý trí và bên kia là cảm xúc. Dưới cái nhìn của khoa tâm lý và phân tâm học, cuộc hành trình lớn lên của con người này chứa đựng tính đối kháng. Con người không thể vứt bỏ hay phủ nhận nó, nếu không con người sẽ tự mâu thuẫn với chính mình.
Cuộc chiến này nhiều lúc làm cho con người mệt mỏi trên con đường đi tìm chân lý.  Mặt khác, sự đối kháng cũng làm cho con người trở nên năng động hơn. Con người phải biết vượt lên trên những chướng ngại vật để chiến thắng ; chướng ngại vật lớn nhất là con người đầy mâu thuẫn.
Đối kháng mang tính xã hội :
Mỗi cộng đồng xã hội mang tính đa dạng phát xuất từ sự đa dạng của các thành phần cấu thành, chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố như văn hóa, tôn giáo, truyền thống, giáo dục, cũng như khuynh hướng sống cá nhân. Sự đa dạng này luôn hàm chứa tính đối kháng.
Đối kháng mang tính xã hội. Hay nói cách khác, nó là thuộc tính của xã hội. Không ai có thể xóa bỏ hay áp chế sự đối kháng, cho dù người ta có trở nên độc đoán hay độc tài tới mức nào như Hít-le hay Sta-lin và những vật lịch sử khác mà chúng ta từng biết. Lịch sử thế giới đã chứng minh điều đó. Độc tài chỉ có thể làm cho sự đối kháng càng lớn mạnh hơn thôi, chứ không thể xóa bỏ nó.
Người ta không thể phát triển xã hội bằng cách xóa bỏ đối kháng, nhưng cần phải điều phối những sự tương tác giữa các thái cực khác nhau tạo nguồn năng lực phát triển. Đó là triết lý chính trị trung thực và khôn ngoan. Sự đối kháng là cần thiết trong tiến trình phát triển xã hội vì nó có khả năng ngăn chặn sự độc tài bóp chết sự tự do con người và tạo chất xúc tác làm thay đổi những gì không phù hợp (về lý thuyết cũng như thực tiễn). Chính vì vậy, việc các nhà trí thức ủng hộ và kêu gọi thiết lập một thể chế chính trị đa nguyên tại Việt Nam phù hợp với lô-gíc này : đối kháng là yếu tính của sự phát triển. Việc thanh trừng những tiếng nói đối lập phá hủy một đất nước và hậu quả của nó không thể được đo lường trước.
Đối kháng giúp kiện toàn đời sống cá nhân :
Truyền thống triết học cổ Hy-Lạp cho rằng người ta chỉ có thể nhận biết mình khi tự soi trong tấm gương của người khác. Người ta không thể tự biết mình qua chính mình mà qua người khác. Cũng vậy, truyền thống thần học Ki-tô giáo khẳng định con người chỉ có thể hiểu biết chính mình và giải đáp những câu hỏi hiện sinh qua việc chiêm ngắm Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa.
Đức Giê-su đã từng khuyến cáo những người Pha-ri-siêu, các nhà thông luật và biệt phái – những người độc đoán trong hệ thống lề luật : họ chỉ thấy cái rác trong mắt của người khác mà không thấy cái xà trong mắt mình (x. Mt 7,1-5). Người ta thường sáng tỏ với người khác, nhưng lại mù lòa với chính mình khi bỏ qua việc lắng nghe những gì đối kháng với mình.
Sự đối kháng là tấm gương mà qua đó từng cá nhân soi vào để kiện toàn đời sống.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

CẦN THAY ĐỔI TƯ DUY : TỪ “ĐIỀU CẤM” TỚI “NÊN LÀM”

Trong cuộc tìm kiếm và phát triển tự do của con người chúng ta nhận thấy những “điều cấm” nhiều lần đã châm ngòi cho những cuộc cách mạng làm thay đổi tư duy con người và những cơ cấu xã hội. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, tại Pháp, đã diễn ra cuộc cách mạng tình dục và người ta đòi hỏi bãi bỏ những điều cấm đoán: “Cấm những điều cấm !” Gần đây xảy ra cuộc cách mạng “Mùa xuân” tại các nước Ả-rập (Trung Đông và Bắc Phi) cũng đến từ những chế độ độc tài áp đặt thể chế chính trị của những “điều cấm”. Cuộc cách mạng này đã đặt dấu chấm hết cho một số chế độ độc tài.
Tiến trình này đi theo nguyên lý lô-gíc tự nhiên : “Tức nước vỡ bờ.” Những ức chế đối với “điều cấm” tồn đọng nơi con người và phát triển dần thành hành động. Như vậy, một xã hội được cai trị bằng thiết quân luật qua những “điều cấm” sẽ dễ tạo nên những sự căng thẳng và áp lực là những tác nhân gây nên các cuộc xung đột. Ai dám chắc rằng công văn của UBND Hà Nội yêu cầu “chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát của người dân” phản đối Trung Quốc đang xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam[1] đã đem lại hiệu quả ? Tinh thần “xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” nơi những người yêu nước đang tạm thời bị “điều cấm” giam hãm.
Hơn nữa, ngoài những điều luật định nhằm đảm bảo đời sống chung và công ích, cũng như những chuẩn mực đạo đức xã hội, những “điều cấm” không có khả năng phát huy óc sáng tạo và sáng kiến cần thiết cho sự phát triển xã hội. Một xã hội kìm kẹp làm hao mòn những nguồn năng lực nơi con người. Chính điều này làm mất tính năng động nơi đời sống con người. Chúng ta hoàn toàn nhận thấy điều này một cách rõ ràng nơi các xã hội phong kiến và độc tài.
Cần phải thay đổi tư duy : từ “điều cấm” tới “nên làm”. Có người suy nghĩa rẳng nếu chúng ta lỏng lẻo với những “điều cấm” sẽ làm lung lay sự bền vững của chế độ. Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng những chế độ chính trị và xã hội hà khắc sớm muộn đưa chúng tới hồi kết và đó là một cái kết bi đát. Chỉ có tình thần cổ vũ “nên làm”, theo nghĩa tích cực, trong hệ thống luật mới đảm bảo sự bền vững của một thể chế chính trị và xã hội. Luật nhân bản luôn luôn bền vững hơn luật “cơ chế”.
Trần Văn Khuê, aa



[1] Tiến Dũng, “Hà Nội yêu cầu chấm dứt biểu tình tự phát”, Vnexpress.net, ngày 18-08-2011, (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/08/ha-noi-yeu-cau-cham-dut-bieu-tinh-tu-phat/)

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

DẤU CHỈ CỦA THỜI ĐẠI

Hiến chế Vui mừng và Hy vọng - Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, của Công đồng Va-ti-ca-nô II xác định : “Hy vọng và lo âu. Để chu toàn nhiệm vụ ấy, lúc nào Giáo Hội cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm ;  như vậy mới có thể giải đáp một cách thích ứng với từng thế hệ những thắc mắc muôn thủa của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương giữa hai cuộc sống ấy. Do đó, cần phải nhận biết và thấu hiểu thế giới chúng ta đang sống với những chờ đợi, mong ước và cả tính chất thường là bi thảm của nó.” (số 4)
Tư tưởng được đúc kết trong những lời trên đây của Công đồng mở ra một viễn cảnh mới cho đời sống và sứ vụ của Giáo Hội trong thế giới hôm nay. Trong hơn 40 năm qua, nhờ luồng khí mới được thổi vào Công đồng Va-ti-ca-nô II, Giáo Hội đã tìm lại vai trò của mình. Giáo Hội ý thức mình cần yêu mến thế giới như chính nó và lắng nghe những “dấu chỉ của thời đại”.
Những giá trị thần học và mục vụ sâu xa của các văn kiện Công đồng, đặc biệt là Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, là không thể bàn cãi. Tuy nhiên, việc nhận diện “những dấu chỉ của thời đại” để giải đáp “những thắc mắc muôn thủa của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy” lại là một vấn đề nan giải trong thế giới đa hợp - văn hóa, tôn giáo và chính trị, hôm nay.
Trước hết, về phương diện văn hóa. Những nét văn hóa thuộc những nền văn hóa khác nhau trên thế giới hôm nay không còn mang tính thuần khiết. Chúng chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoại lai, tức là một phần của nền văn hóa khác. Mặt khác, trong sự tiến triển của bất cứ nền văn hóa nào, chúng ta thấy sự giằng co giữa những thái cực :  truyền thống và hiện đại, tiến bộ và bảo thủ, hội nhập và bảo vệ tính đặc thù. Những sự biến động này tác động lên đời sống con người - cách suy nghĩ và hành động : con người có thể bị xâu xé trong việc tìm kiếm căn tính (trở về nguồn) hay theo khuynh hướng hiếu hòa : san bằng các nền văn hóa.
Chính những biến động văn hóa này cũng làm thay đổi cách đặt vấn đề và “những thắc mắc muôn thủa của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy”.
Tiếp đến, về phương diện tôn giáo. Nhiều người hôm nay vẫn khẳng định tầm quan trọng của yếu tố tôn giáo nơi đời sống con người trong xã hội. Thế nhưng, song song với chủ nghĩa vô thần, phòng trào trần tục hóa lại xem chừng đang lên ngôi trong thời đại chúng ta. Thực sự, phong trào này không nhằm mục đích bài trừ hay chống đối tôn giáo. Nhưng, tính chất của nó là xây dựng một nền nhân học duy quy hướng con người : tất cả đều khởi đi từ con người và trở về với con người. Nó cũng khuyên khích tinh thần tự do tuyệt đối và giải thích ý nghĩa đời sống con người dưới ánh sáng của khoa học.
Hơn nữa, trong một xã hội đa tôn giáo, với tinh thần của sự liên đới và hiệp thông, người ta sẽ dễ dàng sống theo khuynh hướng chủ nghĩa tương đối : không còn đặt nặng sự tuyệt đối của một tôn giáo. Như vậy, “ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy” nơi nhiều người cũng bị thay đổi.
Cuối cùng, về khía cạnh chính trị. Khía cạnh này của đời sống con người luôn luôn phức tạp và “dấu chỉ” của nó nhiều lúc mập mờ. Khuynh hướng chính trị nào là tốt nhất để thăng tiến đời sống con người và như vậy người ta cần phải dấn thân trong đó ? Chúng ta vẫn biết sự lũng đoạn trong chính trị có thể tồn tại nơi bất cứ thể chế chính trị nào, đặc biệt là nơi những chế độ độc tài hay vừa độc tài vừa vô thần. Thế nhưng, chúng ta không thể bỏ qua đời sống chính trị và “cần phải nhận biết và thấu hiểu thế giới chúng ta đang sống với những chờ đợi, mong ước và cả tính chất thường là bi thảm của nó.”
Tóm lại, khi nhìn thế giới từ những chiều kích văn hóa, tôn giáo và chính trị, chúng ta nhận thấy những sự phức tạp của nó. Việc “tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại” để giải đáp “những thắc mắc của con người về ý nghĩa cuộc sống” là một công việc hoàn toàn không đơn giản. Đối với người Ki-tô hữu, việc đọc những “dấu chỉ của thời đại” không thể tách lìa với việc lắng nghe Lời Chúa. Đó là điều mà Công đồng Va-ti-ca-nô II gọi : “Tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm.” Giải thích “những dấu chỉ của thời đại” không thể chỉ duy lý trí và duy ý chí.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

NHÂN BÀI PHỎNG VẤN ĐỨC CHA PHAOLÔ NGUYỄN THÁI HỢP

Một lần nữa chúng ta được nghe người trong cuộc nói về cách hành xử thiếu “chính” của các cấp chính quyền đối với những người mang trong mình tâm huyết “xây dựng và bảo vệ Đất nước” với lý trí và con tim. Những chia sẻ của Đức cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp về cuộc toạ đàm “Hoà bình và Công lý trên Biển đông” không được thực hiện làm tăng thêm sự nghi ngờ của nhiều người đối với chính quyền.
Lịch sử đã một phần cho chúng ta thấy những yếu tính như “ngăn cấm” và “đàn áp” (những điều chính nghĩa), “đe doạ” và “khủng bố” hình như chỉ tồn tại nơi các chế độ chính trị độc tài. Nếu hỏi những người hay đọc về họ - những người đã từng sống trong các chế độ độc tài phát-xít của Hít-le và của những nước thuộc khối cộng sản Liên-xô cũ, chúng ta sẽ biết những gì : sự sợ hãi và nghi kỵ được hun đúc nơi người dân từ chính sách “khủng bố tinh thần” của chế độ. Điều này đã để lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội, hay như ngôn từ được Đức giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI sử dụng để nói về điều này : “một sự tàn phá khủng khiếp” (x. Thông điệp Spe salve, số 21).
Tôi không hiểu về những gì đã xảy ra : các thanh niên tham gia các phong trào vì nước, vì dân hoặc bị bắt, hoặc bị mất việc (phần lớn là thanh niên Công giáo), hay như lời trần tình của Đức cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp trong bài phỏng vấn trên VietCatholic (20-09-2011): “Đối với chúng tôi, Ban Tổ chức cuộc toạ đàm, chúng tôi bó buộc triển hạn toạ đàm không phải chỉ vì Ban Tôn giáo chính phủ và Ban Tôn giáo – Dân tộc thành phố HCM yêu cầu, mà còn vì áp lực nặng nề của nhà cầm quyền trên Tu viện Đa Minh, cơ quan chủ quản của Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình, và nhất là sự đe doạ của các cấp chính quyền đối với các nhân viên cộng tác trong toạ đàm, các cộng sự viên. Một số người bị cảnh cáo là nếu tham dự toạ đàm sẽ bị mất việc. Công an cũng gặp trực tiếp hay gọi điện thoại cảnh cáo nhiều người tại SG và yêu cầu không được tham dự toạ đàm. Một số giáo phận khác cũng được công an thăm hỏi và làm phiền vì chuyện “Hòa bình và Công lý trên Biển Đông.”[1]
Chúng ta không cần bàn thêm về tâm huyết của những nhà trí thức yêu nước và những trăn trở của họ cho sự toàn vẹn đất nước. Chúng ta chỉ đề cập đến tinh thần tôn trọng luật pháp của các cấp chính quyền, một cách đặc biệt trong trường hợp trên đây. Số 55, Hiến pháp của Nhà nước XHCN Việt Nam, xác định : “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.” Cũng vậy, những điều trong Bộ luật lao động của Nhà nước XHCN Việt Nam đã quy định một cách cụ thể quyền lao động của công dân được nhà nước bảo hộ như sau :
Điều 5 :
-          Số 2 : “Cấm ngược đãi người lao động; cấm cưỡng bức người lao động dưới bất kỳ hình thức nào.”
Điều 36 : Hợp đồng lao động chấm dứt trong những trường hợp sau đây:
-          Hết hạn hợp đồng;
-          Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng;
-          Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng;
-          Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm việc cũ theo quyết định của Toà án;
-          Người lao động chết; mất tích theo tuyên bố của Toà án.
Điều 85 :
1-      Hình thức xử lý kỷ luật sa thải chỉ được áp dụng trong những trường hợp sau đây :
-          Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;
-          Người lao động bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật;
-          Người lao động tự ý bỏ việc 7 ngày trong một tuần hoặc 20 ngày trong một năm mà không có lý do chính đáng;
2-      Sau khi sa thải người lao động, người sử dụng lao động phải báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh biết.
Nếu chúng ta hành xử như những người “sống theo pháp luật” trong một “nhà nước pháp quyền”, thì việc “hù doạ” (và có thể là thật) trên đây : “nếu tham dự toạ đàm sẽ bị mất việc”, hoàn toàn phi pháp. Chỉ trong một chế độ độc tài, chúng ta thường thấy có những người tự đặt mình lên trên Hiến pháp và luật pháp mà thôi.
Trần Văn Khuê, aa


[1] “Đức cha Nguyễn Thái Hợp trả lời phỏng vấn của VietCatholic về Biển đông”, ngày 20-09-2011 (http://www.vietcatholic.org/News/Html/92827.htm ).

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN

Theo dòng thời sự trong những ngày gần đây, qua các thông tin đại chúng khác nhau (“lề phải” cũng như “lề trái”), chúng ta nhận thấy có những điều không thể tin. Không thể tin, vì chúng trái với lẽ tự nhiên của lý trí và con tim.
Quả thật, những điều không thể tin này làm nhói con tim của con người lương thiện và tâm huyết với vận mệnh của Đất nước.
Trước hết, đó là hình ảnh của những người mà vai trò thiết yếu, tự bản chất, đảm bảo sự an toàn cho mọi người dân (họ được làm ra như thế, chứ không phải cho quyền lực) canh chừng những người phản đối Trung Quốc đang gây hại cho Đất nước yêu quý của mình. Điều này vượt khỏi tầm hiểu biết của những người có trái tim yêu nước và lý trí yêu mến sự thật. Hình bóng của những người mà chúng ta chỉ thấy tâm tình của họ từ phía sau lưng (No U) phải chăng nói cho chúng ta một sự thất vọng (chỉ nhìn thấy lưng mà không thấy mặt) hay cuốn hút chúng ta đi theo hướng của họ ? Một sự diễn giãi cho hai giả thiết này đều hợp lý.
Tiếp đến, hôm nay (20-09-2011), chúng ta đọc thấy trên báo “chính thức” (tờ vnexpress.net) hai mẩu tin trái ngược gây bàng hoàng đến tột độ, nếu chúng ta đặt chúng cận kề nhau.
Mẩu tin thứ nhất : UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định bổ sung 330 tỷ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng và nâng tổng chi phí cho dự án này là 410 tỷ đồng. Sau khi đưa ra những lý do xây dựng, cũng như sự đánh giá của Chính phủ về công trình này (“công trình quốc gia”), Trí Tín, tác giả của bài báo này, không quên nhắc lại một vài quan điểm của người dân và một cán bộ hưu trí ở huyện Núi Thành, ông Trần Ánh, mà theo tôi hoàn toàn hợp lý: “Tỉnh nên dồn sức quan tâm chăm sóc những mẹ anh hùng còn sống neo đơn lúc tuổi già.” Ông Trần Ánh nói tiếp: "Nên xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng ngay trong lòng người chứ không nhất thiết chi ra số tiền quá lớn như vậy, trong khi tỉnh Quảng Nam còn là địa phương nghèo khó."[1]
Mẩu tin thứ hai : Cũng cùng ngày, một mẩu tin khác có hình ảnh trái ngược với mẩu tin thứ nhất. Các em học sinh ở bản Ông Tú, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình phải bơi qua sông để đến trường. Trao đổi với tờ báo điện tử vnexpress, ông Chủ tịch huyện Minh Hóa cho rằng “kinh phí xây cầu ở bản Ông Tú quá cao, trong khi huyện còn nghèo nên giải pháp trước mắt là tăng cường phụ huynh đưa đón con em đi học và cấp áo phao.”[2]
Tôi không biết “chi phí quá cao” này là bao nhiêu so với tổng kinh phí xây tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất nước : 410 tỷ đồng, nhưng khi nhìn vào cách hành động của các chính quyền nơi đây, tôi biết chắc rằng những ai có trái yêu nước và lý trí yêu mến sự thật không thể ngủ yên.
Trần Văn Khuê, aa


[1] Trí Tín, “410 tỷ đồng xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng”, vnexpress.net, ngày 20-09-2011 (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/09/410-ty-dong-xay-tuong-dai-me-viet-nam-anh-hung/).
[2] Văn Nguyễn, “Học sinh phải bơi qua sông để đến trường”, vnepxress.net, ngày 20-09-2011 (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/09/hoc-sinh-phai-boi-qua-song-den-truong/).

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

TÌNH BẠN

Một trong những mối tương quan gần gũi con người đó là tình bạn. Quả thật, tình bạn cũng đa sắc màu: theo lứa tuổi, theo địa vị xã hội, theo cùng lý tưởng và sở thích …; tình bạn cũng có thể bị thay đổi theo thời gian hay theo cảm tính. Tuy nhiên, Aristote cho rằng tình bạn là điều “cần thiết nhất trong đời sống con người, vì người ta không thể sống không có bạn”: lúc còn trẻ người ta cần bạn để thêm lời chỉ bảo, lúc tuổi già có những người bạn để tâm sự và ủi an. Không những cần thiết, theo Aristote, nó còn là điều “tốt đẹp và đáng tôn kính nhất”.
Trong tập Đạo Đức Học (cuốn VIII và IX, Thuyết lý về tình bạn), Aristote khẳng định điều làm nên sự khác biệt giữa con người và những sinh vật khác là tình bạn. Theo luật tự nhiên, các con vật khác, tuỳ chủng loại, cũng biết yêu và bày tỏ cách yêu của chúng qua những hình thức khác nhau : “Tình yêu là cảm xúc bẩm sinh nơi trái tim mọi sinh vật sinh sản”; tuy nhiên, tình bạn chỉ tồn tại nơi con người.
Có hai chiều kích tình bạn nơi con người theo trình bày của Aristote:
Chiều kích thứ nhất là tình bạn qua mối liên hệ liên vị trong đời sống cá nhân. Một tình bạn đích thật biểu lộ đức hạnh – một yếu tố cấu thành phẩm chất con người : “Tình bạn hoàn hảo là tình bạn của những người đức hạnh […]. Bởi lẽ, những con người đó muốn điều tốt cho nhau.” Quả thật, tình bạn chỉ trở thành đức hạnh khi đó là một tình bạn vô vị lợi, không chiếm đoạt, tương ứng lợi nhuận hay hữu dụng. Một trong những tính chất của tình bạn là lòng nhân hậu : “Người ta gọi những người nhân hậu là con người có trái tim muốn điều tốt cho người khác, và không mong muốn được đáp đền bởi người mà họ yêu mến. Lòng nhân hậu, khi nó qua lại (giữa hai con người với nhau), được xem là tình bạn.” Aristote kết luận : Tình bạn là đức hạnh sẽ đứng vững và lâu bền.
Chiều kích thứ hai là tình bạn trong mối tương quan xã hội. Aristote viết : “Người ta có thể đi đến việc nói rằng tình bạn là mối liên kết của các Nhà nước, và các nhà lập pháp lưu tâm tới nó với sự ân cần còn hơn cả vấn đề công lý. Sự hoà hợp của các công dân không tồn tại nếu không có tình bạn; những luật lệ trước hết muốn thiết lập sự hoà hợp, cũng như loại bỏ sự bất hoà là kẻ thù nguy hại nhất của thành đô. Khi người ta yêu nhau thì không còn cần công lý.”
Những lời trên đây của Aristote cho thấy vị trí của tình bạn trong đời sống xã hội. Nó không phải là một thứ tình “đồng chí” : đồng hướng và đồng đảng. Tình bạn, trước hết và trên hết, là yếu tố có khả năng tạo nên sự hoà hợp giữa những nhân tố xã hội khác nhau.
Đối với các Ki-tô hữu, tình bạn còn là phẩm chất của mối quan hệ con người với Thiên Chúa. Tình yêu giữa Thiên Chúa và con người không chỉ là một tình yêu agape (tình yêu dâng hiến), mà còn là một tình yêu philia (tình bạn). Câu chuyện trong Tin Mừng theo thánh Gio-an nói về việc Chúa Giê-su hỏi Phê-rô tới ba lần (Ga 21,15-19): “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có mến thầy hơn các anh em này không ?” Theo bản văn Tin Mừng bằng tiếng Hy-lạp, hai lần đầu Chúa Giê-su hỏi Phê-rô với tình yêu agape và lần thứ ba với tình yêu philia. Điều này bộc lộ con đường mà Chúa Giê-su đề nghị Phê-rô đi vào trong mối tương quan với Ngài là con đường của tình bạn. Như vậy, kể từ đây, việc Phê-rô đến với Chúa (hay trở về với Ngài) không còn là nỗ lực cá nhân bằng tình yêu agape (dâng hiến), mà là một cuộc song hành giữa Chúa và Phê-rô qua tình yêu – tình bạn.
Trần Văn Khuê, aa