Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

GIÁO HỘI CỦA NGÀY THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Trải qua chiều dài lịch sử chúng ta nhận thấy có những lúc Giáo Hội bị lôi cuốn về “thực tại trần thế” hơn là “thực tại thiêng liêng”. Những “cuộc chiến” về quyền lực trong lòng Giáo Hội và với thế quyền đã từng xảy ra. Các nguyên nhân của những cuộc chiến này rất đa dạng và chúng cũng mang tính chất khách quan trong những bối cảnh xã hội và Giáo Hội riêng biệt.
Giáo Hội mang nơi mình tính siêu nhiên, cũng là một “thực tại hữu hình” trở thành dấu chỉ của Nước Thiên Chúa ở giữa trần gian. Trên con đường tiến về Vương quốc vĩnh cửu Giáo Hội cần phải đủ mạnh để làm điểm tựa cho nhiều người, đặc biệt là những ai có nguy cơ không được bảo vệ trong các xã hội khác nhau. Giáo Hội, vì thế, nhiều lúc trở thành một “quyền lực” song song với thế quyền.
Tuy nhiên, Công đồng Va-ti-ca-nô II trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, xác định về tính chất của Giáo Hội : “Với bổn phận phải bành trướng khắp thế giới, Giáo Hội đi sâu vào trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, Giáo Hội đồng thời cũng vượt thời gian và biên giới các dân tộc. Tiến bước giữa cơn cám dỗ và đau thương, Giáo Hội được vững mạnh nhờ ơn Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đã hứa ban, hầu Giáo Hội vẫn hoàn toàn trung tín, sống như một Hiền Thê xứng đáng của Chúa mình, dầu xác thịt yếu hèn, và không ngừng tự đổi mới dưới tác động của Chúa Thánh Thần cho đến ngày đạt đến ánh sáng không hề tắt nhờ Thánh giá.” (số 9) 
Những dòng trên đây của Công đồng Va-ti-ca-nô về Giáo Hội cho chúng ta hiểu rằng Giáo Hội không chỉ phủ lên mình vẻ huy hoàng của sức mạnh và quyền uy trần thế, nhưng “tiến bước giữa cơn cám dỗ và đau thương”. Nét “đau thương” và ý chí chiến đấu chống lại “cơn cám dỗ” trần thế nơi Giáo Hội được tìm thấy nơi hình ảnh của ngày thứ sáu Tuần Thánh.
Sự trần truồng của ngày thứ sáu Tuần Thánh
Cảnh tượng của ngày thứ sáu Tuần Thánh là sự trần truồng và thinh lặng. Đấng là “Đầu của Hội Thánh” (x. Cl 1,15-18) kết thúc cuộc đời trần thế của mình trên đồi Gôn-gô-ta trong sự trần truồng. Đó không phải vì Ngài muốn, nhưng chính con người đã tước đi chiếc áo vinh quang của Ngài. Khác xa với những lần được dân chúng vây quanh để nghe giảng dạy hay được chữa lành bệnh, Đức Giê-su bị treo cao nơi ngọn đồi hoang vắng giữa hai người trộm cướp cùng bị kết án.
Nếu đời sống đức tin của các tín hữu cũng như đời sống của Giáo Hội được khởi đi từ sự kiện phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô và ngày lễ Ngũ Tuần thì thứ sáu Tuần Thánh cũng là một trong những yếu tố nền tảng làm phần đời sống của các tín hữu và Giáo Hội. Bởi lẽ, con người Đức Giê-su trở thành đối tượng của niềm tin của mọi tín hữu và Giáo Hội không chỉ được giới hạn ở một thời điểm nào đó, nhưng bao hàm toàn bộ đời sống, sứ mạng và cuộc thương khó trước khi đạt tới vinh quang.
Giáo Hội – thân thể của Đức Ki-tô, cần học chấp nhận sự trần truồng cũng như sự thinh lặng là những yếu tố thuộc về bản chất đời sống của mình. Không dám đối diện hay khước từ sự trần truồng nhiều lúc làm cho Giáo Hội không phản ánh hết gương mặt Đức Giê-su Ki-tô đích thực, tiềm ẩn trong đời sống của Giáo Hội.
Cuộc chiến chống lại sự quyến rũ của quyền bính
Khung cảnh của ngày thứ sáu Tuần Thánh cũng là khung cảnh mà nơi đó những người lính, một trong hai người trộm cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giê-su đã thách thức Ngài : ông hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi nữa và như thế chúng tôi sẽ tin ông. Quả thật, người ta vẫn tự hỏi tại sao Đức Giê-su đã không dùng quyền năng của mình trong cuộc khổ nạn để tự cứu thoát mình và như thế nhiều người sẽ thán phục và tin theo ? Thiên Chúa trong Đức Giê-su đã sống khiêm hạ cho tới cùng trước sự thách thức và ngông nghênh của con người.
Nguy cơ của sự cám dỗ về quyền bính xảy ra nơi mỗi người thuộc mọi thời đại và ngay cả trong Giáo Hội. Con người luôn có khuynh hướng chứng tỏ sức mạnh và quyền lực đối với người khác. Sự quyến rũ của quyền bính là một trong những cơn cám dỗ dịu dàng nhất của con người. Đức Giê-su cũng đã trải qua cơn cám dỗ về quyền bính trong sa mạc ngay trước lúc khởi đầu sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa. Chúng ta nhận thấy quyền bính là một trong những nguyên nhân gây nên các cuộc xung đột và chiến tranh trên toàn thế giới.
Giáo Hội sẳn sàng trả lời những chất vấn của con người thời đại về Thiên Chúa và những giá trị Tin Mừng, nhưng không bao giờ có thể so găng về quyền bính đối với bất cứ một quyền lực trần thế nào, ngoại trừ việc dấn thân cho cuộc chiến đấu về sự thật của Thiên Chúa và con người.
Niềm hy vọng phát sinh từ thứ sáu Tuần Thánh
Mặc dù sự u ám bao trùm trời đất trong ngày thứ sáu Tuần Thánh, nhưng số ít trong những người chứng kiến cái chết của Đức Giê-su trên đồi Gôn-gô-ta đã tin nhận Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Niềm tin đã không bị dập tắt hết.
Thiên Chúa đã tự mạc khải chính mình cho con người trong hình thức khiêm hạ nhất : cái chết trên đồi Gôn-gô-ta. Chính vì thế trong thông điệp Caritas in veritate, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã viết : “Trong cái chết thập tự của Người, việc “Thiên Chúa quay lại chống đối mình” đạt đến mức tuyệt đỉnh, khi Người tự hiến chính mình, để nâng con người lên và cứu độ họ - đó là tình yêu trong hình thức triệt để nhất. Cái nhìn vào cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giê-su, mà thánh Gio-an nói đến (x. Ga 19,37) giúp chúng ta hiểu khởi điểm của Thông điệp này : “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Nơi đó, chân lý này có thể được nhìn ngắm. Và cũng từ đó, có thể định nghĩa tình yêu là gì. Từ cái nhìn này, người Ki-tô hữu tìm được con đường để sống và để yêu.” (số 12)
Cây Thập giá của thứ sáu Tuần Thánh là biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa trong hình thức triệt để nhất. Tình yêu khiêm hạ này vẫn lôi cuốn con người. Nói cách khác, không phải vì quyền bính, nhưng vì tình yêu trong hình thức triệt để nhất mà con người bị cuốn hút. Chúng ta còn nhớ về Đức tân Chân Phước Gio-an Phao-lô II vào thời cuối đời của người. Đó là hình ảnh của một vị đứng đầu Hội Thánh Công Giáo, xuất hiện trong con người bệnh tật đến thê thảm trên các phương tiện truyền thông. Một số người đã nhìn thấy qua hình ảnh của người gương mặt của một Giáo Hội đáng thương trong thế giới. Tuy nhiên, con người này, yếu đau về thể xác, đã có sức cuốn hút mãnh liệt đối với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ.
Một Giáo Hội tràn đầy sức sống Tin Mừng – Tin Mừng của niềm hy vọng và ơn cứu độ, không nhất thiết phải là Giáo Hội “quyền lực” dưới cái nhìn của con người. Nhưng chính trong sự yếu đuối và trần truồng của Giáo Hội nhiều người tìm thấy niềm hy vọng cứu độ của Thiên Chúa.
Lời kết
Chúng ta nói về Giáo Hội của ngày thứ sáu Tuần Thánh. Hình ảnh này hoàn toàn không có ý nói về ngày tàn hay hoàn cảnh thê lương của Giáo Hội. Nhưng, việc Giáo Hội phải trải qua những thách đố trong thế giới hôm nay, như Đức Giê-su – là “Đầu của Hội Thánh”, đã trải qua ngày thứ sáu Tuần Thánh, có sức thanh lọc và làm cho Giáo Hội mỗi ngày trở nên gương mặt trung thực của Đức Giê-su Ki-tô : yêu thương và phục vụ con người trong sự khiêm hạ đến mức trần truồng.
Trần Văn Khuê, aa

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHAY TỊNH TRONG KI-TÔ GIÁO

Người Kitô hữu hôm nay, đặc biệt là những người Tây phương, coi nhẹ việc ăn chay như hình thức giảm nhẹ ăn uống hay kiêng ăn thịt. Tuy nhiên, ăn chay chiếm một vị thế quan trọng trong các lễ nghi và việc thực hành đạo đức của các tôn giáo nhằm những mục tiêu : sự tu luyện khổ hạnh, việc thanh tẩy, khẩn cầu.

Chay tịnh trong truyền thống Do-thái giáo

Trong phụng vụ Do-thái giáo chúng ta thấy có ngày “ăn chay lớn” vào dịp Lễ Xá Tội. Đây là truyền thống chay tịnh mang tính cộng đoàn. Sách Lê-vi quy định :

Ngày mồng mười tháng bảy là ngày Xá tội, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, phải ăn chay hãm mình và tiến dâng một lễ hoả tế lên ĐỨC CHÚA.Chính ngày ấy, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào, vì đó là ngày Xá tội, ngày cử hành lễ xá tội cho các ngươi trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi. Như vậy bất cứ người nào không ăn chay hãm mình vào chính ngày đó, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ; và bất cứ người nào làm một việc gì vào chính ngày đó, Ta sẽ làm cho nó biến mất không còn dấu vết giữa dân nó. Các ngươi không được làm một công việc nào : đó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở. Đối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ, và các ngươi phải ăn chay hãm mình. Từ chiều ngày mồng chín đến chiều hôm sau, các ngươi phải nghỉ để giữ ngày sa-bát. (Lv 23, 27-32)

Có hai điểm được lưu ý trong đoạn sách Lê-vi này. Trước hết, ngày Lễ Xá Tội được xếp ngang hàng với ngày sa-bát, nghĩa là ngày nghỉ và là ngày được thánh hiến cho Đức Chúa. Tiếp đến, việc thực hành ăn chay này nói lên sự thuộc về dân Thiên Chúa : “Bất cứ người nào không ăn chay hãm mình vào chính ngày đó sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ” và “Ta sẽ làm cho nó biến mất không còn dấu vết giữa dân nó”.

Ngoài ra, người Do thái còn ăn chay do việc đạo đức cá nhân. Chúng ta bắt gặp thói quen ăn chay này trong các Tin Mừng. Một người Pha-ri-siêu đã cầu nguyện trong đền thờ như thế này : “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18, 12). Một câu chuyện khác cũng đã được tường thuật lại trong Tin Mừng. Môn đệ của Gio-an và Pha-ri-siêu thắc mắc : “Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay ? " (Mc 2,18)

Đức Giê-su và việc chay tịnh

Không phủ nhận việc ăn chay, chính Chúa Giê-su cũng đã làm điều đó khi bắt đầu sứ vụ của mình (x. Lc 4, 1-13). Tuy nhiên, Chúa Giê-su mời gọi : sự công chính của những người môn đệ của Ngài phải vượt lên trên sự công chính của những người Pha-ri-siêu (Mt 5,20). Thật vậy, việc thực hành ăn chay có nguy cơ vụ hình thức mà chính ngôn sứ A-mốt đã khuyến cáo :

Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường ;
hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú.
Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu,
những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận,
chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài.
Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi
Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa.
Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào,
cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn.
Hỡi nhà Ít-ra-en, bốn mươi năm trường trong sa mạc,
các ngươi có dâng lên Ta hy lễ hay lễ phẩm nào không
? (Am 5,21-25)

Thông điệp mà ngôn sứ A-mốt muốn chuyển đến với dân trong những công việc đạo đức là lẽ phải như nước tuôn trào và công lý như dòng suối không bao giờ cạn nơi đời sống con người. Đó là cách thực hành chay tịnh tốt nhất trước mặt Thiên Chúa.

Cũng vậy, việc chay tịnh của Đức Giê-su, một cách nền tảng, được gắn liền với sứ vụ rao giảng Nước Thiên Chúa. Thánh Lu-ca đã đặt câu chuyện về việc chay tịnh của Đức Giê-su trong sa mạc ngay trước thời điểm Đức Giê-su bắt đầu rao giảng Tin Mừng. “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.” Và “được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê”, rồi Người đến Na-da-rét. Nơi đây Đức Giê-su đã tuyên bố : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (x. Lc 4, 1-22).

Ý nghĩa của việc chay tịnh : sống khiêm hạ và hy vọng
                                 
Sự khiêm hạ theo nghĩa Kinh Thánh trước tiên là sự khiêm tốn, đối lại tính kiêu căng. Nó là thái độ của con người mang tội trước mặt Thiên Chúa. Thật vậy, chay tịnh không phải là kỳ công của việc tu luyện khổ hạnh, nhưng trước hết diễn tả sự nhận biết ân huệ của Thiên Chúa : nhận ra của ăn là quà tặng của Thiên Chúa và Thiên Chúa chính là lẽ sống. Bốn mươi năm trong sa mạc, Thiên Chúa đã luôn đồng hành với dân Do thái trong mọi khổ cực. Trong sự khổ cực này, dân tộc Do-thái được mời gọi nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Như vậy, việc thực hành chay tịnh không nhằm lấy sự đau khổ để mua cuộc sống vĩnh hằng như nhiều người đã thường nghĩ, nhưng nhằm gặp gỡ Thiên Chúa một cách khiêm tốn.

Dân Ít-ra-en học sự khiêm hạ trước tiên trong kinh nghiệm về Thiên Chúa quyền năng cứu dân Ngài. Họ đã giữ kinh nghiệm này qua việc tưởng nhớ những hành động của Thiên Chúa trong các nghi lễ phụng tự. Trong ý nghĩa này phụng tự là trường học của sự khiêm hạ.

Dân Ít-ra-en cũng kinh nghiệm về sự nghèo khó của mình trong sự thử thách: thất bại, lưu đày, hay trong những thử thách cá nhân : bệnh tật, sự yếu đuối, kém cỏi. Từ đây con người có thái độ : nhận biết sự nhỏ bé của chính mình và quy hướng về Thiên Chúa với tấm lòng thống hố.

Hơn thế nữa, đối với các Ki-tô hữu, sự khiêm hạ được đặt nền tảng từ sự khiêm hạ của chính Đức Ki-tô qua mầu nhiệm Nhập thể và cái chết của Ngài. Như vậy, sống khiêm hạ là sống sự khiêm hạ của Con Thiên Chúa. Sự khiêm hạ này gắn liền với tình bác ái, yêu thương. Thánh Au-gus-ti-nô viết : “Ở đâu có sự khiêm hạ ở đó có tình bác ái”. Những ai mặc lấy sự khiêm hạ trong mối tương quan với người khác đi tìm kiếm lợi ích của người khác và lấy chổ sau cùng. Về vấn đề này thánh Phao-lô đã khuyên dạy các tín hữu thuộc cộng đoàn Cô-rin-tô : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13, 4-7)

Về  mối tương quan giữa chay tịnh và sống hy vọng. Trong thần học tu đức, khi nói tới hy vọng trong việc thực hành chay tịnh, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu ngay đến thái độ : sự tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa là nguồn sống, bởi lẽ như Tin Mừng nói : “Con người không chỉ sống nguyên bởi bánh mà còn bởi những lời của Thiên Chúa”. Tuy nhiên, điều mà chúng ta cần nhấn mạnh : bốn mươi ngày đêm chay tịnh không phải là thời gian mà chúng ta sát phạt thân xác, nhưng là những ngày mà chúng ta chuẩn bị mừng lễ Vượt qua, sự Phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Sự Phục sinh của Ngài là nền tảng, là trung tâm của niềm tin Ki-tô hữu. Thánh Phao-lô khẳng định nếu Đức Giêsu Kitô không sống lại thì niềm tin và những gì tôi rao giảng thật hảo huyền (x. 1Cr 15,1-4). 

Sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô nói cho chúng ta điều gì ? Thư của thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Rô-ma, chương 5, cho chúng ta biết : đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta ; qua cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô, chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa ; và cuối cùng, qua cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã tiêu diệt sự chết và đem lại sự sống cho con người.

Lời kết

Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay ; có người đến hỏi Đức Giê-su : "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay ? "Đức Giê-su trả lời : "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được. Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó. (Mc 2, 18-20)

Ăn chay đương nhiên còn có một vị thế trong đời sống của Giáo Hội. Với Đức Giê-su Ki-tô, Giáo Hội là hiện thân của Nước Trời đang ở giữa thế giới này, nhưng nó cũng chưa thật sự hoàn hảo. Chúng ta còn phải chờ đời ngày trở lại trong vinh của Đức Giê-su Ki-tô. Trong khi chờ đợi, việc thực hành chay tịnh vẫn còn. Khi tân lang đến thì những người bạn của tân lang không cần phải ăn chay. Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ được quên việc ăn chay phải nói lên hai chiều kích : gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân.

Trần Văn Khuê, aa

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

THIÊN CHÚA CHINH PHỤC SỰ TỰ DO CON NGƯỜI

Nói về Thiên Chúa chúng ta nói tới các thuộc tính vượt xa so với những phẩm chất con người cũng như hành động của Ngài không luôn luôn nằm trong tính lô-gíc của lý trí. Một trong những điều làm chúng ta ngạc nhiên là Thiên Chúa tạo dựng con người và trao ban cho con người sự tự do : “Thiên Chúa muốn cho con người được tự do”. Tuy nhiên, sau khi ban tặng cho con người sự tự do, để có được con người Thiên Chúa phải quay trở lại chinh phục sự tự do con người. Phải chăng đây là tính chất riêng biệt của Thiên Chúa ? Quả thực, chúng ta thấy một cách rõ nét điều này trong toàn bộ lịch sử mạc khải của Ngài trong Kinh Thánh và trong đời sống của nhiều người theo dòng lịch sử.
Khi đọc Kinh Thánh chúng ta tìm thấy những lời của Thiên Chúa dành cho con người là những lời mời gọi theo thể điều kiện cách : “nếu”. Đó là những lời đề nghị mà Thiên Chúa gợi ý cho con người trong việc kêu gọi con người đảm trách một sứ vụ hay đi vào trong mối tương quan với Ngài. Từ Mô-sê – người được sai tới Ai-cập để giải thoát dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ (Xh 3), cho tới Đức Ma-ri-a – người được đề nghị làm mẹ Đấng Cứu Thế (Lc 1,26-38), Thiên Chúa đã không áp đặt bất cứ ý định bất di bất dịch nào lên con người. Chương trình của Ngài chỉ được thực hiện sau lời chấp thuận của con người.
Ngoài ra, ngay cả với những giới luật được ban bố cho con người Thiên Chúa luôn kèm thêm lời hứa. Chúng ta tìm thấy lời hứa này ngay trước khi Thiên Chúa ban Thập giới cho dân Ít-ra-en : “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6). Thiên Chúa của sự tự do chỉ có thể đề nghị con người đáp trả lại luật giao ước cách tự do và từ đó Ngài có thể làm cho họ trở thành “một dân thánh”.
Cũng vậy, trong Tân Ước Chúa Giê-su làm theo một thể thức của Thiên Chúa mạc khải trong Cựu Ước. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Tin Mừng về người thanh niên giàu có. Một hôm có người thanh niên tới hỏi Chúa Giê-su : “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời ?” Chúa Giê-su đã trả lời anh ta : “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” và Người đã liệt kê các điều răn như sau : “Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian. Ngươi phải thờ cha kính mẹ và ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ngươi”. Tuy nhiên, người thanh niên này nói : “Tất cả những điều đó tôi đã tuân giữ” và hỏi Chúa Giê-su : “Tôi còn thiếu điều gì nữa không ?” Chúa Giê-su đề nghị anh ta : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Sau đó, Tin Mừng thêm lời chú thích : “Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” (x. Mt 19, 16-22).
Cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và người thanh niên giàu có trên đây là câu chuyện điển hình nói về con đường mà Thiên Chúa đề nghị với con người tới “cõi sống” và đời sống “hoàn thiện” được mở ra với sự dấn thân tự do của con người. Và trong câu chuyện này Chúa Giê-su, một cách nào đó, đã thất bại trước sự tự do chọn lựa của con người.
Đi ra khỏi những câu chuyện Kinh Thánh chúng ta còn bắt gặp vô số câu chuyện khác nói về cuộc chinh phục sự tự do con người của Thiên Chúa. Câu chuyện về cuộc đời thánh Augustinô là một trong những câu chuyện đặc sắc. Đây là câu chuyện giữa Thiên Chúa và thánh nhân. Để chinh phục Augustinô Thiên Chúa đã không “quật ngã” con người này trên những nẻo đường cuộc sống đam mê. Nhưng, như lời tự bạch của thánh nhân trong cuốn Tự Thuật : Thiên Chúa vẫn luôn âm thầm ở đó trong cuộc đời, nhưng Augustinô đã không sớm nhận ra Ngài. Thiên Chúa đã chinh phục sự tự do của Augustinô bằng cách tiến bước cách âm thầm trong cuộc đời thánh nhân và không ngần ngại cư ngụ trong trái tim ngang trái của Augustinô. Câu chuyện này cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã không ngăn cản sự tự do con người, nhưng chinh phục nó. Cuối cùng, Augustinô cũng đã tìm thấy Ánh sáng chân lý là Thiên Chúa bằng con đường tìm kiếm tự do.
Trần Văn Khuê, aa



Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

TÌNH HUYNH ĐỆ KI-TÔ GIÁO

Một trong những khía cạnh của đời sống con người trong mối tương quan với người khác là tình huynh đệ. Chúng ta không ngừng nói về tình huynh đệ và nó cũng được định nghĩa theo những nhãn quan riêng của từng người hay từng nhóm người. Tình huynh đệ có thể được xem là đời sống tình cảm trong lòng của một gia đình, một họ tộc ; tình huynh đệ cũng có thể được xem như một mối quan hệ con người vượt qua ranh giới của quan hệ ruột thịt. Nền tảng của tình huynh đệ, tức là những yếu tố làm nên đời sống huynh đệ cũng đa dạng.

Quả vậy, đời sống huynh đệ là những gì thiết yếu mà các cộng đoàn nhân loại tìm kiếm. Tôi sẽ giới thiệu những trình bày của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI trong cuốn sách “Đời sống huynh đệ Ki-tô giáo”.

Ý tưởng về tình huynh đệ trước và ngoài Ki-tô giáo

“Anh em” trong văn hóa Hy-lạp cổ

Theo truyền thống triết học Hy-lạp cổ, tình huynh đệ trước tiên là mối quan hệ máu mủ theo logíc tự nhiên. Tuy nhiên, tình huynh đệ cũng được tìm thấy trong những mối tương quan xã hội khác.

Trong các tác phẩm của Platon chúng ta tìm thấy việc mô tả về một đồng bạn công dân là người anh em, hay gọi một người bạn là anh em. Điều này cho chúng ta hiểu ít nhất hai vấn đề của tình huynh đệ. Thứ nhất, tình huynh đệ không còn được đặt nền tảng trên mối quan hệ máu mủ, nhưng được mở rộng tới mọi người của một quốc gia. Thứ hai, đồng thời nó cũng khằng định cho chúng ta là những người ngoại lai không được xem là anh em.

Tình huynh đệ trong truyền thống Do-thái giáo

Trong Cựu ước, đối với dân Ít-ra-en, “anh em” được hiểu trong những người cùng chung tôn giáo. Có hai cụm từ thường được sử dụng để chỉ về điều này: “đồng hương” (những anh em) và “láng giềng” (những người ngoại lai).

Chúng ta thấy có một điểm tương đồng giữa quan điểm Hy-lạp và Do-thái. Đối với văn hóa Hy-lạp, cộng đồng chính trị trở thành cộng đồng tôn giáo trong mối dây tình huynh đệ; đối với người người Do-thái, cộng đồng tôn giáo trở thành cộng đồng chính trị. Từ đây chúng ta bắt gặp hai lãnh vực luân lý thuộc hai nhóm: “Dân Thiên Chúa” và “Dân ngoại”. Câu hỏi được đặt ra trong câu chuyện người Sa-ma-ri-a tốt lành: “Ai là người thân cận tôi” liên quan đến vấn đề này.

Chúng ta cũng nhận thấy một phẩm chất đặc biệt khác của Cựu ước. Một người anh em là người thuộc về dân tộc được tuyển chọn của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là tình huynh đệ không phụ thuộc một cách đơn thuần dựa theo dòng tộc, nhưng theo việc tuyển chọn bởi Thiên Chúa. Tình huynh đệ không đến từ một cộng đồng chính trị (theo văn hóa Hy-lạp) mà đến từ Thiên Chúa là Cha, Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa của tất cả mọi người.

Thiên Chúa không chỉ được dành riêng cho dân tộc Ít-ra-en, mà Thiên Chúa của tất cả. Như vậy, “dân tộc được tuyển chọn” cũng được hiểu theo nghĩa rộng, không được giới hạn nơi dân Ít-ra-en. Lịch sử Kinh Thánh, lịch sử Ít-ra-en được hiểu trong lịch sử phổ quát của một nhân loại. Tất cả mọi con người, Ít-ra-en và Dân ngoại thiết lập một nhân loại duy nhất từ việc tạo dựng của Thiên Chúa. A-dam tượng trưng cho một nhân loại đầu tiên và Nô-ê là một nhân loại mới thứ hai được sinh ra. Bảng gia phả của sách Sáng Thế ở chương 10 (một sự tập hợp chung mọi nguồn gốc) nổ lực chứng minh rằng toàn bộ lịch sử nhân loại hiện hữu qua sự cứu độ của Thiên Chúa bằng giao ước với Nô-ê. Trong ý nghĩa này tình huynh đệ được hiểu theo tính đại đồng.

Tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mác-xít

Trước khi đề cập tới ý tưởng về tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mác, chúng ta cần nhắc tới phong trào Ánh Sáng, được đánh dấu bởi cách mạng Pháp, là tiền đề cho phong trào cộng sản. Cách mạng Pháp đã khai sinh cho nước Pháp câu tuyên ngôn chung: tự do, bình đẳng, huynh đệ. Tuyên ngôn ngày xác định tình huynh đệ đồng quyền chính trị. Thật vậy, thiết lập lại quyền bình đẳng tự nhiên giữa tất cả mọi người là nguồn gốc của tình huynh đệ mà Cách mạng pháp nhắm tới.

Tư tưởng này làm tiền đề cho ý tưởng Mác-xít về tình huynh đệ mà từ “đồng chí” là biểu tượng. Tuy nhiên, chúng ta biết, trong tư tưởng Mác-xít, ý tưởng về Thiên Chúa như người Cha chung bị biến mất; đồng thời ý tưởng về một nhân loại chung cũng mất tầm quan trọng. Tại sao vậy?

Chúng ta thường lầm tưởng chủ nghĩa cộng sản đem lại một thế giới đại đồng. Ý thức hệ cộng sản thực sự lại không phải như vậy. Nếu như phong trào Ánh Sáng muốn xóa bỏ ranh giới của sự khác biệt, trong tư tưởng Mác-xít nhân loại lại được chia ra thành hai nhóm hoàn toàn đối chọi nhau: giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Điều này đặt thế giới vào hai thái cực khác nhau và chống lại nhau : một sự phân rẽ trong cùng nhân loại, một cuộc đấu tranh sinh tồn. Hệ quả là nó không thể đối xử với tất cả mọi người như anh em, nhưng chỉ với một số. Những người khác là địch !

Ý tưởng về tình huynh đệ trong Ki-tô giáo

Qua các Tin Mừng

Các nhà chú giải Kinh Thánh tìm thấy những nhóm bản văn khác nhau nói về “anh em” trong các Tin Mừng.

Nhóm đầu tiên (những bản văn) tiếp quản việc sử dụng từ “anh em” của Cựu ước. “Anh em” có nghĩa là những người cùng cộng đoàn tôn giáo (cộng đoàn Do-thái giáo). Tất cả những bản văn này được tìm thấy trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (x. Mt 5,21-24; 18,15-17).

Nhóm văn bản thứ hai đề cập đến “anh em” không được sự dụng một cách thông thường bởi những người Do-thái, nhưng được sử dụng một cách đặc biệt bởi cách kinh sư. Họ sử dụng từ “anh em” để nói về các môn sinh của mình. Chính Chúa Giêsu cũng đã áp dụng nó cho nhóm mười hai. Tuy nhiên, có một sự khác biệt giữa các kinh sư và Chúa Giê-su trong việc sử dụng từ “anh em”.

Trước hết, tình huynh đệ của những môn đệ giữa họ và với Đức Giê-su được nối kết một cách chặt chẽ với tình phụ tử của Thiên Chúa, khác với mức độ quan hệ thầy-trò của các kinh sư. Bằng chứng trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Chúa Giê-su yêu cầu các môn đệ : “Các con không được gọi ai là thầy, bởi vì các con chỉ có một thầy và tất cả các con là anh em với nhau” (Mt 23,8). Từ đây chúng ta nhận thấy “anh em” mang chiều kích Ki-tô giáo : Thiên Chúa là nền tảng của tình huynh đệ.

Tiếp đến, khi Chúa Giê-su gọi các môn đệ của mình là “anh em”, đó là điều hoàn toàn khác với các kinh sư gọi các môn sinh. Nhóm mười hai là biểu tượng của Dân Thiên Chúa mới, một dân của những người là anh em với nhau.

Nhóm văn bản thứ ba hoàn toàn thuần túy Ki-tô giáo. Đoạn Tin Mừng theo thánh Mác-cô là một ví dụ điển hình (Mc 3, 31-35: ai mới thật là thân nhân của Đức Giêsu?)

Trong đoạn Tin Mừng này, mối quan hệ thiêng liêng vượt lên trên mối quan hệ máu mủ. Đối với Đức Giê-su, những người anh em là những người kết hợp với Người và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Tình huynh đệ không được xem là trật tự tự nhiên, nhưng phụ thuộc vào quyết định của tinh thần, nói vâng với ý muốn của Thiên Chúa. Khi Chúa Giê-su nói: “Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10, 29-30), Người muốn ám chỉ một gia đình mới, lớn lao hơn được cấu thành từ những thành viên của những cộng đoàn Ki-tô hữu.

Trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 25, chúng ta cũng nhận thấy quan điểm Ki-tô giáo về tình huynh đệ hoàn toàn riêng biệt so với những quan điểm khác. Chúa Giê-su gọi những người nhỏ bé, vô danh, túng thiếu nhất là anh em. Một điều đặc biệt trong đoạn Tin Mừng này là không có một dấu hiệu nào nói lên rằng họ là những tín hữu, những người đã tin vào Tin Mừng, nhưng tất cả mọi con người túng thiếu, bần cùng, nghèo khó, bị bỏ rơi, bị bách hại hay bị tù đày được chúc phúc.

Qua các bản văn của thánh Phao-lô

Thánh Phao-lô đã đánh dấu một bước ngoặt thật sự cho sự phát triển Ki-tô giáo tách khỏi Do-thái giáo. Việc sự dụng cụm từ “anh em” trong văn bản của thánh Phao-lô là một bằng chứng cho sự tách biệt này. Đối với thánh Phao-lô, “anh em” là những Ki-tô hữu, cùng chia sẽ niềm tin vào Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô (x. Rm 8,14-17).

Nếu như tình huynh đệ của Ít-ra-en dựa trên tình phụ tử đặc biệt của Thiên Chúa được trao ban trong việc tuyển chọn, trong Ki-tô giáo ý tưởng của tình phụ tử được thiết lập một cách sâu sắc qua Ba ngôi Thiên Chúa. Tình phụ tử của Thiên Chúa được biểu lộ đầu tiên trong Con Thiên Chúa, Đức Giê-su Ki-tô, và qua Người tới chúng ta. Cũng vậy, Thánh Thần của Người ở trong chúng ta làm cho chúng ta kêu lên Thiên Chúa là “Cha”.  Nói cách khác, tình phụ tử của Thiên Chúa được bộc lộ cho chúng ta qua trung gian của Đức Giê-su Ki-tô trong Chúa Thánh Thần.

Khi nói Chúa Thánh thần, chúng ta nói tới sự cởi mở của Thiên Chúa cho mọi người. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhấn mạnh : tất cả mọi người được mời gọi trở thành Ki-tô hữu, nhưng chỉ ai làm điều đó trở thành anh em. Tình yêu agape có thể tồn tại nơi mọi người, nhưng tình yêu huynh đệ (philadelphia) thuộc về người môn đệ của Đức Ki-tô (cùng một tình thần, tâm hồn hướng về Thiên Chúa).

Qua giáo huấn của các Giáo phụ

Thời kỳ của các Giáo phụ là thời kỳ của Ki-tô giáo tiến sâu vào trong thế giới của người ngoại. Như vậy, phép rửa được xem là hành vi cụ thể mà một người trở thành “anh em”. Phép rửa đồng nghĩa với việc sinh lại và người lãnh nhận chấp nhận đi vào trong “tình huynh đệ” Ki-tô giáo như chính tên của cộng đoàn (cộng đoàn tình yêu). Trong việc sinh lại này Giáo hội là mẹ và Thiên Chúa là Cha. Cũng vậy, việc cử hành bí tích thánh thể là trung tâm của tình huynh đệ.

Tuy nhiên, dần về sau với sự phát triển của Ki-tô giáo, từ “huynh đệ” hay “anh em” dần ít được sử dụng một cách chung, nghĩa là cho tất cả mọi Ki-tô hữu. Nó trở thành một từ riêng được sử dụng trong hàng giáo sĩ, và phát triển trong các tu viện, cộng đoàn tu. Điều này nói lên ý nghĩa đích thực của đời sống của một cộng đoàn tu : sống tình huynh đệ. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cũng đã đánh mất một ý nghĩa nền tảng ban đầu của những cộng đoàn Ki-tô tiên khởi mà chắc hẳn chúng ta cần phải đào sâu lại ngày nay.

Trần Văn Khuê, aa

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

LỜI CẦU NĂM MỚI 2012

Trong những ngày này bao trái tim thổn thức, bao nhiêu con người háo hức về ngày sum họp gia đình vào những ngày đầu năm mới. Dòng người ngược xuôi : người thì vồn vã trên những chuyến xe quê, kẻ thì náo nức mua sắm cho những ngày Tết.
Người ta cố quên đi những vất vả, nhọc nhằn của năm qua để vui cho đầy những ngày Tết, cũng như mong ước một năm mới hạnh phúc sắp đến. Hẳn nhiên không phải mọi người đều gặp may trong năm qua, nhưng điều đó không còn quan trọng đối với mọi người trong những ngày này. Điều lớn lao hơn hết là người ta hướng về năm mới với nhiều niềm hy vọng.
Mọi người sẽ có nhiều lời cầu chúc tốt đẹp cho nhau trong những ngày đầu năm mới : phúc – lộc – thọ. Riêng phần mình, tôi vẫn thao thức cho những ước mơ :
Một xã hội liên đới
Trong năm qua chúng ta đã từng nghe thấy thái độ vô cảm của nhiều người trong xã hội chúng ta. Một hiện tượng gây lo ngại cho toàn xã hội được bàn luận rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Hiện tượng này là kết tinh của một lối sống ích kỷ ảnh hưởng bởi khuynh hướng “duy vật chất” và thiếu một nền giáo dục nhân bản. Nhiều người lạnh cảm với đau khổ và sự bất hạnh của anh em đồng loại. Người ta sống chộp dật, tranh dành, trù dập người khác vì quyền lợi cá nhân. Một xã hội mà trong đó người ta đặt mục tiêu là chiếm dụng, chiếm đoạt cho riêng mình.
Sẽ không có bất cứ một xã hội phát triển bền vững nào nếu không có sự liên đới giữa những cá nhân và tập thể trong cùng một xã hội. Thước đo của giá trị xã hội là tinh thần liên đới giữa con nguời trong cùng một cộng đồng nhân loại.
Mơ ước tới một xã hội liên đới là mơ ước về một “thành đô” không còn có sự phân biệt giữa tiếng nói, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến, phong tục tập quán và mọi người cùng hướng tới những gì là thiện hảo xây dựng một cộng đồng nhân loại chung.
Một xã hội công bằng
Năm vừa qua cũng là năm của những sự việc nổi cộm với hàng loạt vụ “nỗi loạn” chống “quan tham”. Những tiếng kêu than của dân oan vang trên khắp mọi miền đất nước.
Sẽ không bao giờ có được một xã hội liên đới – đặt nền tảng cho sự phát triển bền vững, nếu không có một nguyên lý xã hội công bằng được thực hiện. Người ta sẽ liên đới với ai và như thế nào nếu như trong xã hội chỉ toàn là bất công ? Hơn nữa đó là những sự bất công mang tính chính trị ?
Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hoà bình công lý đã giao duyên. (Tv 84)

Bốn cột trụ nền tảng nhằm đảm bảo sự đứng vững của một xã hội : chân lý (tín nghĩa), tình yêu (ân tình), hoà bình và công lý. Chân lý sẽ thiếu ý nghĩa và trở nên khô cứng nếu như không có tình yêu; ngược lại, tình yêu sẽ trở thành một thứ tình cảm theo cảm tính nếu không có chân lý (ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI, Yêu thương trong sự thật). Cái tình yêu cảm tính này là mầm mống của nguyên lý “ân huệ” phát sinh một cách tiêu cực trong xã hội. Cũng vậy, thế giới sẽ không có được một nền hoà bình đích thực nếu không có công lý.

Mong ước một xã hội công bằng là mơ tới một xã hội mà trong đó “tín nghĩa ân tình hội ngộ” và “hoà bình công lý giao duyên”.

Phi chính trị hóa cực đoan

Chính trị là một trong những lãnh vực sinh hoạt thông thường của mọi con người. Bởi lẽ, con người mang tính chính trị. Từ đó, những định chế chính trị được thiết lập không phải để cổ võ cho một thứ chủ nghĩa không tưởng, nhưng nhằm mục đích đảm bảo một đời sống chung và thăng tiến công ích (xét về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn).

Tuy nhiên, chính trị cũng có nguy cơ trở thành một thứ ma lực lũng đoạn đời sống người dân bởi một nhóm người quyền lực. Nguy hiểm hơn nữa là người ta cố tình chính trị hóa một cách cực đoan hay mù quáng theo một thứ chủ nghĩa không tưởng mọi lãnh vực đời sống con người : văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, giải trí ….

Trong một xã hội lành mạnh, vấn đề của những người làm chính trị không phải là “triệt để tư tưởng chính trị” hay phải kiên vững tư tưởng bằng mọi giá, nhưng là khả năng thích nghi thời đại nhằm làm cho cộng đồng xã hội phát triển. Thật vậy, mục tiêu nền tảng không phải là phát triển “đảng của tôi” mà phát triển con người trong một cộng đồng xã hội mà chúng ta đảm nhận trách nhiệm. Lịch sử nhân loại cho chúng ta thấy không có một thể chế chính trị nào là “muôn năm”. Chúng ta đã chứng kiến những thể chế chính trị khác nhau đã ra đi : chế độ phong kiến đã nhường đường cho xã hội quân chủ, và xã hội quân chủ cũng đã phải nhường chỗ cho xã hội dân chủ pháp quyền.  

Mong ước một xã hội phi chính trị hóa cực đoan là mơ tới một xã hội huynh đệ, trong đó người ta luôn đặt quyền lợi của dân tộc, quốc gia và của con người trên quyền lợi của “đảng phái chính trị”.

Trần Văn Khuê, aa



Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

CUỘC SỐNG VÀ HY VỌNG

Báo chí thế giới, nhân dịp cuối năm, đã tổng kết và đánh giá những sự kiện xảy ra trên thế giới trong năm 2011 vừa mang tính tích cực và tiêu cực.
Những sự kiện được xem là tích cực như cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” và kết quả là làm sụp đổ các chế độ độc tài và chấm hết sự nghiệp những nhà độc tài Mubarak (Tunisie), Gaddifi (Lybia) …. Ngoài ra, cái chết của trùm khủng bố Bin Laden và nhà độc tài Bắc Hàn, Kim Jong Il, cũng làm cho thế giới thở phào nhẹ nhõm.   
Tuy nhiên, bên cạnh những sự kiện được xem tích cực này, không thiếu những sự kiện tiêu cực trong năm qua như cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và châu Âu, các cuộc xung đột đẫm máu trên thế giới, mọi người bàng hoàng với nạn đói ở So-ma-li-a được đưa lên các phương tiện truyền thông và động đất gây sóng thần tại Nhật Bản cuốn trôi nhiều người vô tội và nhấn chìm các thành phố xinh đẹp thuộc tỉnh Fukushima.
Trong thông điệp đầu năm, nhân ngày cầu cho hòa bình thế giới (01/01), Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã nhận định về thế giới cách bi quan : cách đây hơn 2000 năm, Đức Giê-su,Vua hòa bình, đã đến rao giảng Tin Mừng hòa bình cho nhân nhân loại, nhưng hôm nay thế giới vẫn sống trong cảnh chiến tranh và xung đột. Đức Giáo Hoàn kêu gọi giáo dục giới trẻ hôm nay về “công lý và hòa bình”.
Viễn cảnh thế giới trên đây làm nhiều người trong chúng ta bi quan. Quả thật, con người đang vất vả tìm kiếm và xây dựng một thế giới nhân bản, công bình và huynh đệ. Những giá trị nền tảng cấu thành đời sống xã hội này còn là ước mơ con người.
 Trong thế giới này con người không ngừng được mời gọi sống hy vọng. Bởi lẽ, chỉ hy vọng mới có thể làm cho con người đứng dậy sau những cuộc đổ vỡ trong đời sống.
Tuy nhiên, con người cũng không chỉ hy vọng để sống. Người ta không thể ở đó rồi hy vọng và ngày mai trở nên tốt đẹp. Thế giới sẽ không bao giờ trở nên tốt đẹp hơn nếu như trái tim con người không được biến đổi. Tất cả khởi đi từ việc con người cần có khả năng thay đổi hay biến đổi, khả năng chân nhận những gì là chân thật và hướng tới những gì là thiện hảo xây dựng đời sống con người.
(Đôi dòng ngắn nhân những ngày đầu năm 2012)
Trần Văn Khuê, aa

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

THIÊN CHÚA MUỐN CHO CON NGƯỜI ĐƯỢC TỰ DO

Sách Sáng Thế cho biết ngay từ khởi đầu con người đã bắt đầu có sự hiềm khích với Thiên Chúa vì sự tự do. Con rắn đã gieo vào lòng con người ý nghĩ về một Thiên Chúa độc đoán, không muốn con người có khả năng như Ngài và hạn chế sự tự do con người.

Trải qua chiều dài lịch sử nhân loại, vì thế, chúng ta nhận thấy con người có những cuộc giao tranh với Thiên Chúa, vì con người cho rằng Thiên Chúa muốn giam hãm con người trong các điều luật : từ sự vật lộn của Gióp trong Kinh Thánh với người của Thiên Chúa tới những tư tưởng bài trừ Thiên Chúa qua nhiều giai đoạn lịch sử con nguời.

Tuy nhiên, Thiên Chúa thực sự là ai ? Dung mạo đích thực của Ngài như thế nào ?

Một bước ngoặt nhận thức về sự tự do trong lịch sử tôn giáo Tây phương

Lịch sử tôn giáo của Tây phương đã trải qua một sự biến chuyển lớn nơi nhận thức về vị thế và sự hiện hữu của Thiên Chúa trong đời sống con người. Từ sự chấp nhận và khẳng định sự hiện hữu của Thiên Chúa là hiển nhiên và cần thiết, phong trào chủ nghĩa Ánh Sáng (thế kỷ 18), đánh dấu bước ngoặt lịch sử hiện đại của Tây phương, đã đặt lại toàn bộ xác tín Ki-tô giáo. Các luận văn khoa học không còn lấy Thiên Chúa để giải thích vũ trụ, những đinh luật của nó, ngay cả sự sống và nguồn gốc của những chủng loại sinh vật. Triết học, về phần mình, đã đòi quyền tự do suy tư, giải thích Thánh Kinh theo lý trí.

Chính phong trào này đã thực sự làm giảm suy tinh thần tôn giáo. Tuy nhiên, phần khác, người ta cho rằng sự suy giảm tinh thần tôn giáo xuất phát từ thiếu sự nhạy cảm của Giáo Hội trong những dấu chỉ của thời đại nhằm tiếp cận với con người thời đại mang nơi mình những ưu tư như nhà thần học Joseph Moingt, tu sĩ dòng Tên, đã nhận định :

« Thay vì hướng dẫn tinh thần tự do này, Giáo Hội chống lại khi tinh thần tự do quay lại chống đối quyền lực tôn giáo. Giáo Hội tuyên bố vô thần đối với các triết gia như Descartes hay Spinoza, những người muốn trước hết suy nghĩ qua chính mình và niềm tin của chính mình. Khoảng không từ đó được đào sâu giữa khoa học, triết học một bên và tôn giáo, thần học một bên. Đối với các triết gia, Thiên Chúa mạc khải trở thành không thể tưởng tượng, chính vì Thiên Chúa không còn cho phép suy nghĩ một cách tự do. Xa rời với tôn giáo, con người hiện đại học tự vượt qua khỏi Thiên Chúa, suy nghĩ và sống trong sự vắng mặt của Thiên Chúa, như thể Ngài không hiện hữu. Trong tiến trình lịch sử cụ thể này mà Thiên Chúa đã mất dần sự hiện hữu trong thế giới và cho con người. »

Từ đây chúng ta nhận thấy giá trị của Công đồng Va-ti-ca-nô II, một Công đồng đã cấp bách tìm hiểu những biến chuyển của xã hội và của con người trong thế giới hôm nay. Trong số 4 của Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, Công đồng ghi nhận : « Hy vọng và lo âu. Để chu toàn nhiệm vụ ấy, lúc nào Giáo Hội cũng có bổn phận tìm hiểu tường tận những dấu chỉ của thời đại và giải thích dưới ánh sáng Phúc Âm ; như vậy mới có thể giải đáp một cách thích ứng với từng thế hệ những thắc mắc muôn thuở của con người về ý nghĩa của cuộc sống hiện tại và mai hậu cũng như về mối tương quan giữa hai cuộc sống ấy. Do đó, cần phải nhận biết và thấu hiểu thế giới chúng ta đang sống với những chờ đợi, mong ước và cả tính chất thường là bi thảm của nó. Có thể phác họa một vài nét chính yếu của thế giới ngày nay như sau :

Nhân loại ngày nay đang sống vào một giai đoạn mới trong lịch sử của mình. Đó là giai đoạn chất chứa những đổi thay sâu xa và mau chóng đang dần dần lan rộng tới toàn thể hoàn cầu. Những thay đổi do óc thông minh và nỗ lực sáng tạo của con người khơi dậy, đang trở lại ảnh hưởng trên chính con người, trên những phán đoán và ước vọng cá nhân hay tập thể con người. Như vậy, chúng ta có thể nói đến sự biến đổi đích thực về mặt xã hội và văn hóa, sự biến đổi này đang lan tràn tới cả đời sống tôn giáo. »

Cụm từ “dấu chỉ của thời đại” và lời mời gọi nhận ra những dấu chỉ của thời đại làm nên nét đặc sắc của Công đồng Va-ti-ca-nô II nói chung và Hiến chế Gaudium et spes (Vui Mừng và Hy vọng) nói riêng. Tư tưởng này phát xuất từ cố Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII, với ước vọng canh tân Giáo Hội, được linh ứng từ Tin Mừng. 

Công đồng viết tiếp : « Đáp ứng những thúc bách của Chúa Thánh Thần, dân Thiên Chúa, nhờ đức tin mà tin rằng mình được Thánh Thần Thiên Chúa là Đấng bao phủ mặt đất hướng dẫn, cố gắng nhận định đâu là những dấu chỉ thực về sự hiện diện hoặc ý định của Thiên Chúa trong mọi biến cố, mọi yêu sách và ước vọng mà họ dự phần với những người đương thời. Thực vậy, đức tin lấy ánh sáng mới chiếu soi mọi sự và biểu lộ ý định của Thiên Chúa về thiên chức toàn vẹn của con người và do đó hướng dẫn lý trí tới những giải quyết hoàn toàn nhân bản. » (GS, số 11)

Đức tin lấy ánh sáng mới là gì ? Sống đức tin không phải là quay lưng tránh né các vấn đề nhân loại. Trái lại, chỉ nhờ đức tin mà chúng ta mới có được cái nhìn toàn diện về con người. Nghĩa là qua mầu nhiệm Nhập thể, chết và sự Phục sinh của Chúa Giê-su chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị (sự nhỏ bé của con người cũng như sự lớn lao của nó) và sự tự do của con người.

Mối tương quan giữa đời sống xã hội và niền tin Ki-tô giáo ở Việt Nam hoàn toàn khác. Chúng ta không sống kinh nghiệm từ phong trào chủ nghĩa Ánh sáng Tây Phương, nhưng kinh nghiệm trở thành Ki-tô hữu trong một xã hội mà các Ki-tô hữu thường bị cho là trở thành những nô lệ và « con nghiện » của một thứ « tôn giao ngoại lai ».

Nhưng, Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, nghĩa là Thiên Chúa mạc khải qua Đức Giê-su Ki-tô, mà chúng ta tin và bước theo thực sự là ai ?

Tự do : một chủ đề xuyên suốt Kinh Thánh

Các nhà chú giải Kinh Thánh đã tìm thấy một ý nghĩa lớn lao và nền tảng trong hành động tạo dựng của Thiên Chúa. Hành động này của Thiên Chúa gắn liền với sự ban tặng sự tự do cho con người. Động từ bara (trong tiếng Do-thái) mang hai ý nghĩa : tạo dựng và tách rời. Điều này muốn nói lên rằng Thiên Chúa từ lức tạo dựng đã muốn cho con người có một không gian cho chính mình, một không gian của sự tự do trong mối tương quan với Đấng Tạo Hóa. Trong không gian đó con người tự do đón nhận Thiên Chúa hoặc từ chối Ngài như thánh Au-gus-ti-nô viết sau này.

Trở lại với Joseph Moingt. Nhà thần học này đã nhìn thấy trong tinh thần của tự do phù hợp với Tin Mừng, có nghĩa là ý tưởng về sự tự do mà con người thời đại tìm kiếm không đi ngược hay chống lại Tin Mừng. Ông viết :

« Tôi tin phải nhận biết rằng sự đòi lại sự tự do của con người đối diện với Thiên Chúa là kết quả của Tin Mừng. Đó là tinh thần của Tin Mừng dạy con người sự tự do này và cho phép con người tiến lại gần Thiên Chúa trong tất cả sự tự do ».

Quả thật như vậy, thánh Phaolô viết : « Quả thế, thưa anh em, anh em được gọi để hưởng sự tự do » (Galat 5,3). Trở nên tự do là một trong những đặc điểm nền tảng của Tin Mừng cứu độ. Chúa Giê-su đã đến loan báo : « Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa » (Lc 4, 18-19). Thông điệp này của Chúa Giê-su gởi đến cho tất cả mọi người : Do-thái hay dân ngoại, cho tất cả những ai khao khát sự tự do đích thực trong mọi thời đại.

Chúng ta biết rằng Kinh Thánh không đưa ra bất cứ một câu định nghĩa nào về sự tự do ; tuy nhiên, nó làm tốt nhất là chỉ ra một con đường để con người có thể đạt tới sự tự do đích thực. Nó chỉ cho thấy Thiên Chúa ưu tư giải phóng dân của Ngài như thế nào và niềm tin và Đức Ki-tô cho phép chúng ta có được sự tự do đích thực.

Sự tự do được đề cập trong văn kiện của Giáo Hội, Gaudium et spes

Sự cao cả của tự do được đặt trong chương I của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng : Phẩm giá con người. Điều này hàm ý rằng tự do thuộc về phẩm giá của con người, hay nói cách khác, phẩm giá con người chứa đựng yếu tố tự do.

Công đồng ghi nhận rằng con người đương thời có lý ngưỡng mộ và hăng say theo đuổi sự tự do. Tuy nhiên Công đồng cũng cho thấy con người lắm lúc cổ võ sự tự do lệch lạc. Đâu là sự tự do đích thực ? Công đồng đưa ra câu trả lời : « Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người » (số 17).

Trước hết, tự do là dấu chỉ của sự hiện diện của Thiên Chúa : đâu có sự tự do, ở đó có Thiên Chúa. Thánh Phao-lô viết : « Đâu có Thánh Thần của Chúa, đó có tự do » (2Cr 3,17). Khía cạnh thứ hai : loại bỏ Thiên Chúa chính là loại bỏ sự tự do. Bởi lẽ khi loại bỏ Thiên Chúa con người trở nên độc đoán và thay thế Thiên Chúa để phán quyết điều thiện và điều ác (Dietrich Bonhoeffer).

Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng viết tiếp : « Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, hầu con người tự mình đi tìm Đấng Tạo Dựng và nhờ kết hợp với Ngài con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn hạnh phúc ».

Thiên Chúa không dùng sự quyến rủ nhằm đưa con người lại với mình, nhưng con người bằng sự tự do đi tìm kiếm Thiên Chúa. Bởi lẽ, mầu nhiệm Giáng sinh, cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá không có gì hấp dẫn đối với con người. Đó là một hành vi nghèo hèn của Thiên Chúa, qua đó Ngài để cho con người tin hay không tin trong sự tự do. Nhưng, thánh Gio-an viết : « Những ai tin thì Ngài cho quyền trở thành con Thiên Chúa ».

Trần Văn Khuê, aa