Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

XIN HÃY NÓI LỜI YÊU THƯƠNG

Có khi nào bạn nghĩ rằng một ngày nào đó, người thân thương sẽ không còn sống bên cạnh bạn nữa ? Bạn và tôi, chúng ta không thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai đối với người thân của mình. Chúng ta cũng không biết điều gì sẽ xảy ra cho chính bản thân dù trong một giờ sắp tới.

Chị bạn tôi mới về thăm gia đình và gặp lại người mẹ yêu quý của chị. Chị muốn tâm sự với mẹ về niềm vui, nỗi buồn trong suốt thời gian xa cách gia đình. Cuối cùng vì một lý do nào đó chị không thể nói được. Một tuần sau, chị nhận được tin mẹ chị qua đời cách đột ngột. Chị dường như không còn tin vào tai mình vừa nghe, bởi mẹ chị vẫn còn trẻ và không có biểu hiện nào của bệnh tật cả. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Người mẹ ấy không còn sống trên cõi đời này nữa. Có rất nhiều, rất nhiều trường hợp như thế. Người mà ta mới thấy đó, ngày nào ở bên ta đó nhưng nay không còn nữa.

Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng người thân sẽ sống bên chúng ta mãi. Chúng ta quên rằng chỉ qua một đêm thôi, ta sẽ có thể không còn gặp người ấy nữa. Ta muốn nói lời xin lỗi, thể hiện lòng biết ơn hay bày tỏ tình thương đối với họ, nhưng đã trễ rồi. Họ không còn có thể lắng nghe được nữa dù chỉ một lời mà thôi.

Nhìn lại chính mình, tôi cảm thấy rất hạnh phúc với những gì tôi lãnh nhận từ tình thương, sự tha thứ và lòng khoan dung của người sống bên tôi. Thật sự mà nói tôi chưa thực tập tốt hay đúng hơn tôi chưa sống hoàn hảo. Nhưng tự đáy lòng, tôi luôn nói với chính mình : “ Hãy yêu thương, tha thứ và khoan dung khi còn có thể, bởi tôi không biết được tương lai đang tới. Có thể chỉ một phút nữa thôi thì điều này sẽ trở thành không thể”.

Tôi nghĩ rằng cuộc sống ở trong tất cả mọi sự, từ điều to lớn cho tới điều đơn giản, thậm chí là ở điều mà chúng ta không hề quan tâm đến. Cuộc sống luôn “nói chuyện” với chúng ta thông qua điều giản dị và không ngờ đến nhất. Đừng bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào trong cuộc sống của bạn, hãy quý trọng nó !

E. Trúc Giang, spc




Thứ Ba, 18 tháng 3, 2014

THIÊN CHÚA ẨN MÌNH

Qua chiều dài lịch sử biết bao sự kiện và biến cố để lại trong ký ức khó quên của nhân loại. Nhiều chấm đen lịch sử khó bị tẩy rửa và viết thương bi ai không thể được chữa lành. Chúng ta mang nó nơi mình như bài học kinh nghiệm xương máu, cho dù vẫn chưa bao giờ biết cách làm tốt hơn cho ngày mai tươi đẹp, con người sống trong hòa bình và mọi người được vui hưởng niềm vui trọn vẹn sống làm người.

Cũng không chỉ với thảm kịch mang mang tầm vóc thế giới, chúng ta nhiều lúc choáng váng vì cái bị lãng quên. Cái bị lãng quên tầm thường và thường ngày. Nó tầm thường đến mức không được mấy ai quan tâm. Nó tầm thường vì không đủ sức gây tiếng vang và bị tan biến trong mối bận tâm khác của con người. Hình ảnh em bé bơ vơ không người nương tựa, cụ già neo đơn mắt lệ nhòa nơi xa vắng, dân lành lam lũ không tìm đủ ngày hai bữa cơm no nơi phố thị xa hoa giàu có…, tất cả chỉ tầm thường.

Chúng ta phẫn nộ cho cái thói tham lam giàu có và quyền lực đến mức áp bước người khác. Vang vọng đâu đó câu hỏi của con người : “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày, khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi : này Thiên Chúa ngươi đâu ?” (Thánh Vịnh 45, 4).

Thiên Chúa ẩn mình, Thiên Chúa vẫn thinh lặng như lời của ngôn sứ I-sa-i-a : “Lạy Thiên Chúa của Ít-ra-en, lạy Đấng Cứu Độ, Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45, 15).  Kinh nghiệm về Thiên Chúa vượt khỏi tầm hiểu biết con người ! Quả thật, ngoại trừ trường hợp của Gia-cóp diện đối diện với Thiên Chúa : “Tôi đã thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, mà tôi đã được tha mạng” (St 32, 31), truyền thống Kinh Thánh Cựu Ước cho ta biết con người không nhìn thấy Thiên Chúa diện đối diện bao giờ, nhưng họa may chỉ nhìn thấy Ngài từ phía sau. Sách Xuất hành tường thuật về cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và Mô-sê trên núi như sau : “Ông Mô-sê nói : xin Ngài thương cho con được nhìn thấy vinh quang của Ngài”. […]. Người phán : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Đức Chúa còn phán : “Đây là chỗ gần Ta ; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy”” (Xh 33, 18-23). Tuy nhiên, I-sa-i-a không chỉ nói về Thiên Chúa ẩn mình qua việc không biểu lộ cho con người thấy “tôn nhan” Ngài, hay như thể Ngài ở chốn hoang vu : “Khi Ta phán, Ta đâu có ẩn mình ở nơi nào trong vùng đất tối tăm. Ta không bảo giống nòi Gia-cóp : Hãy tìm Ta trong cảnh hoang vu” (Is 45, 19), nhưng chính là Ngài không ở trong bất cứ hình tượng nào mà con người phác họa nên. Đó là “kẻ làm ra ngẫu tượng” (45,16), “người kiệu tượng gỗ, khấn vái thứ thần chẳng cứu được ai” (45, 20). Thiên Chúa mà con người tưởng vọng có thể là Thiên Chúa của sở thích, Thiên Chúa của nhu cầu, Thiên Chúa của cảm tính, Thiên Chúa của quyền lực, Thiên Chúa của tham vọng, Thiên Chúa của sự toan tính con người. Nói cho cùng, trong ý tưởng tượng con người Thiên Chúa hoàn toàn vắng lặng.

Thiên Chúa ẩn mình ngay trong chính công trình tạo dựng của Ngài khi đặt con người vào trung tâm vũ trụ và trao quyền cho con người trông coi nó với sự tự do. Ngài ẩn mình trong sự thinh lặng của Đức Giê-su. Sự ẩn mình tột độ của Thiên Chúa nơi cái chết bi thảm của Đức Giê-su trên đồi Gôn-gô-ta vào ngày thứ sáu trước lễ Vượt qua của người Do-thái. Nơi đó một lần nữa con người chất vấn về Ngài : “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa” (Lc 23, 39). Nhưng, vinh quang Thiên Chúa được biểu lộ qua sự ẩn mình của Ngài.

Trần Văn Khuê


Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

ĐỨC GIÊSU VÀ SỰ THINH LẶNG

Người ta thường nói “thinh lặng là vàng” hay “thinh lặng là nghệ thuật của đối thoại”. Thật vậy, thinh lặng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Đối với Đức Giêsu, sự thinh lặng còn mang nhiều ý nghĩa cao siêu khác mà Thánh Kinh đã ghi lại cho chúng ta.

Thông thường, con người sau giờ lao động vất vả, náo nhiệt hay tìm kiếm giây phút thanh vắng để nghỉ ngơi cho lại sức, nhằm lấy lại thế quân bình cho cơ thể và tâm trí. Trong khi nghỉ ngơi người ta không thích sự ồn ào, náo động của người khác.

Đức Giêsu nhà tâm lý đại tài. Ngài rất am hiểu về ý nghĩa của sự thinh lặng. Khi các môn đệ đã mệt mỏi sau cuộc hành trình truyền bá Tin Mừng và hành nghề trừ quỉ chữa bệnh, Ngài bảo các ông : “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31).

Mặt khác, Đức Giêsu nổi tiếng với tài năng như thuyết giáo hay, chữa bệnh giỏi, trừ quỉ tài phép, đặc biệt là lòng nhân ái đã khiến cho tiếng tăm lan rộng và hàng ngàn người kéo đến với Ngài. Thế nhưng, không như người biệt phái kiêu căng, tự mãn, trái lại Ngài lánh mặt đi ra nơi thanh vắng để cầu nguyện cùng Chúa Cha : “Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng ; đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. Nhưng Người lánh vào nơi hoang vắng để cầu nguyện” (Lc 5,15-16).

Đối với Đức Giêsu, sự thinh lặng cầu nguyện còn là phương thế để gặp gỡ và thưa chuyện với Chúa Cha trong mọi lúc bất kể thời gian và Người coi như là bổn phận: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó”(Mc 1,35). Đồng thời, sau khi đã nuôi sống hàng ngàn người ăn, Người giải tán họ và lên núi cầu nguyện (x. Mt 14,23) để cảm tạ Chúa Cha về hồng ân mà Cha đã ban. Hồng ân đã giúp cho Ngài nuôi sống hàng ngàn người no thỏa.

Ngoài việc gặp gỡ Chúa Cha, sự thinh lặng của Đức Giêsu còn biểu lộ lòng khiêm nhường. Ở đời, người ta vốn thích được tiếng hơn được miếng, họ vốn thích người khác khen là giỏi, là tài ba... nhưng Đức Giêsu hoàn toàn khác. Ngài chữa bệnh rất giỏi không lấy tiền, nhưng lạ là Ngài đều cấm họ phải im tiếng hay không tiết lộ : “Coi chừng đừng nói với ai” (Mt 8,4; Mc 1,44; Lc 8,56). Chúa Giêsu luôn tự coi mình là tôi trung của Chúa Cha. Chính vì thế mà Ngài muốn dân chúng giữ thinh lặng để khỏi hiểu sai về vai trò của Ngài. Nhưng dù cho Ngài có cấm, họ vẫn không thể không cất lời ca ngợi Chúa. Sau cùng, hình ảnh Người tôi trung của Giavê Thiên Chúa bị hành hạ, chịu nguyền rủa nhưng vẫn im lặng tuyệt đối, biểu hiện rõ nét qua hình ảnh Đức Kitô khi đối diện với hội đồng và tổng trấn Philatô : “Người làm thinh chẳng hé môi” (Mc 15,5).

Đỉnh cao của thinh lặng là sự tha thứ. Lời cầu xin tha thiết này của Đức Giêsu là lời tha thứ bao la, vô bờ bến : “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Con Một Thiên Chúa uy linh tối cao lại để cho loài người thấp hèn tội lỗi hành hạ, đánh đập, chửi rủa. Ngài vui lòng cam chịu, không hề thốt ra một tiếng nào. Qua đó, ta thấy sự thinh lặng của Chúa Giêsu trên thập giá là đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa. Đằng sau sự thinh lặng đó, ơn cứu độ của Thiên Chúa tuôn chảy trên khắp mặt đất này.

Tóm lại, qua những ý tưởng trên phần nào làm nổi bật sự thinh lặng tuyệt vời của Chúa Giêsu. Thiết nghĩ, mỗi người chúng ta cũng nên coi thinh lặng như kim chỉ nam cho đời sống của mình. Chúng ta tìm kiếm sự thinh lặng không phải là cái gì bên ngoài, không có tiếng động, nhưng chính là từ nơi sâu thẳm của con tim, nơi hiện ra và thu hồi mọi ước vọng sâu xa nhất có thể giúp ta sống tỉnh lặng trong tương giao với Thiên Chúa.


E. Trúc Giang, SPC

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

THINH LẶNG

Ở Tây phương ngày càng nhiều người trong dịp nghỉ hay cuối tuần đến với đan viện[1] để tìm kiếm giây phút thinh lặng, không gian yên tĩnh, tâm hồn lắng đọng. Ngay cả khi nơi đó thật heo hút, khuất bóng sau triền núi ngoằn ngoèo, xa xăm nơi vùng thung lũng mênh mông và lác đác con người giữ nhịp cầu kinh mỗi ngày, nó vẫn lôi cuốn tâm hồn. Dĩ nhiên, ta không thể so sánh khách tới đây với đám đông trên bãi biển vào ngày đẹp trời mùa hạ hay dòng người hứng thú với đường đua trên dãy núi tuyết mùa đông.

Thinh lặng hình như không còn nơi phố xá thành thị vồn vã hôm nay. Người ta bị kích động bởi tiếng ồn ào của người, của vật, của ngày và của cả đêm. Đầu óc quay cuồng với vũ bão thông tin dần dập không ngớt. Ngay cả khi trao đổi với nhau người ta không biết và cũng không cần biết được lắng nghe thế nào. Người nói cứ nói, người phát ngôn cứ phát, người thuyết minh cứ thuyết, người giảng dạy cứ giảng… và người đón nhận thông tin ai mà biết được. Thinh lặng để lắng nghe hay biết được lắng nghe không mấy mảy may tồn tại.

Chúng ta quyên rằng thinh lặng làm phần với cuộc sống của ta. Nó là sự thư thái nơi thân xác, êm đềm trong tâm hồn. Đánh mất sự thinh lặng là đánh mất một phần con người và cuộc sống. Thinh lặng mang trái tim của con người rạo rực niềm vui.

Con người cần thinh lặng để lắng nghe : lắng nghe ta, lắng nghe người và lắng nghe vũ trụ đất trời. Con người không chỉ lắng nghe với đôi tai, nhưng còn với cả trái tim – trái tim hiểu biết, trái tim biết lắng nghe. Trong thinh lặng chúng ta nghe tiếng thì thầm của chính mình, tiếng vang vọng của con người và tiếng du dương của đất trời.

Con người cần thinh lặng để nói với mình, nói với người và nói với đất trời. Trong thinh lặng con người trở về với chính mình và đến với người. Thinh lặng là ngôn ngữ - thứ ngôn ngữ nội tâm giàu biểu cảm và sâu sắc. Người ta thường chỉ nghĩ trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ âm thanh mà quên đi ngôn ngữ của thinh lặng. Thinh lặng không là sự dửng dưng của người ích kỷ, thờ ơ của người vô tâm và vô can của người thiếu trách nhiệm. Nó là sự cảm thông của người tha thứ, hiệp thông của người thân cận và yêu thương của người bạn tri kỷ. Ngôn ngữ âm thanh cần ngôn ngữ thinh lặng để trở nên hoàn thiện.

Thinh lặng không mấy được biết và được hiểu, nhưng thinh lặng lại là con người hoạt động biết suy nghĩ, chiêm niệm biết năng động. Thinh lặng vì thế chính là kho tàng của đức khôn ngoan.

Trần Văn Khuê




[1] Tu viện kín nơi đó đan sĩ sống đời chiêm niệm trong lao động và cầu nguyện.

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

CÁI NHÌN VỀ TỰ DO

Chúng ta không thể phủ nhận việc con người hôm nay chiếm hữu và hưởng thụ nhiều hơn. Nhưng hơn bao giờ hết, con người cảm thấy cô đơn, đau khổ, lạc lõng, thiếu vắng tình yêu, nên con người càng khao khát được tự do và hạnh phúc. Chúng ta thử dừng lại vài khoảnh khắc sau ngày làm việc vất vả để suy tư về điều đó. Nếu hạnh phúc con người được đo lường bằng mức độ chiếm hữu và hưởng thụ, lẽ ra con người ngày nay hạnh phúc hơn bất cứ ai vào thời điểm khác trong lịch sử chứ ? Nhưng tại sao con người vẫn thấy mình bất hạnh ?

Hãy nhìn vào thực tế hôm nay : xã hội dường như làm đảo lộn tất cả mọi trật tự luân lý do chủ thuyết sai lầm như thuyết duy vật, «sống hưởng thụ». Thật sai lầm, khi con người cho mình có quyền tự do hưởng thụ tất cả mọi sự và khai trừ Thượng Đế ra ngoài cuộc sống. Đại diện cho nền văn minh Tây Âu, triết gia Frederic Nietzsche tuyên bố : «Thượng Đế đã chết rồi». Con người coi mình làm chủ tự do tuyệt đối. Trong khi đó, Thiên Chúa là Đấng tự do tuyệt đối thì con người lại truất phế Ngài. Phong trào triết học hiện sinh mà ông tổ là Jean Paul Sartre, đã nhân danh tự do tuyệt đối của con người, khi nói : «Con người chỉ có tự do đích thực, khi con người nhảy lên làm Thiên Chúa, vì còn chấp nhận Thiên Chúa, con người sẽ mất hết tự do».

Chủ thuyết đó đã ăn sâu vào tâm trí con người, làm giảm đi tinh thần cũng như giá trị sự sống. Hơn nữa, với xã hội hôm nay, tự do hưởng thụ và tự do khoái lạc là điều thích hợp, biện minh cho sự từ chối và quên lãng Thiên Chúa. Để bù lại đó là xã hội đồi trụy, biết bao thứ tiêu khiển tìm cách khỏa lấp cơn khát của lương tâm là giá trị tinh thần được sống mà Thiên Chúa qua Đức Kitô đã ban cho : «Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga10,10).

Quả là thảm trạng cho thế giới tương lai, trong khi nhân loại đặt tin tưởng vào thế hệ mới, tương lai rực rỡ của giới trẻ. Họ đang làm gì và sống thế nào ? Trước mắt nhân loại đang nhìn thấy đa số thế hệ trẻ lao mình xuống vực thẳm trong sự đồi bại. Bởi họ trực tiếp đón nhận chủ thuyết lệch lạc như miếng mồi ngon hợp khẩu vị. Do đó, xã hội bị chìm sâu trong trụy lạc và tội ác như : hút xách, ma túy, mại dâm, tham nhũng, cướp giật, bóc lột... tạo nên mối lưu tâm trăn trở cho các nhà lãnh đạo cũng như cho toàn nhân loại.

Một cách nào đó, con người đã đi lệch con đừng của Thiên Chúa, đánh mất sự quân bình giữa hai thái cực : một bên là tâm linh và bên kia là thể xác. Chính vì sự mất quân bình ấy, con người cảm thấy đau khổ, mất tự do và không còn có đời sống thoải mái (trong trật tự của Thiên Chúa). Con người bị giam hãm, chịu cảnh tù đày giữa thế giới bao la rộng lớn, giữa khung trời cao vút.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng khuyến cáo nhân loại hãy đứng dậy, hãy vùng lên thoát khỏi sự kiềm tỏa của nỗi kinh hoàng sợ sệt, để trở về nguồn tức là trở về với Đấng đã dựng nên muôn vật. Đó là chân lý mà các nhà hiền triết như Lão Trang, Lão Tử đã hội ngộ trùng phùng với giáo huấn của các Giáo phụ trong Hội Thánh. Còn đối với cá nhân mỗi người, chúng ta đã làm và đang làm gì để giúp ích cho Giáo Hội cũng như xã hội được đứng lên lập lại sự thăng bằng giữa hai lĩnh vực : Tinh Thần và Vật Chất ? Đó là ý thức được sự giới hạn và bất toàn của mình : sai sót, bất cẩn…, để sửa lỗi, xin ơn tha thứ và hoán cải.

E. Trúc Giang, SPC


Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

TRÁI TIM HIỂU BIẾT

Chúng ta nghe quen câu nói nổi tiếng của triết gia người Pháp, Blaise Pascal (1623-1662) : “Trái tim có lý lẽ riêng mà lý trí không thể lý giải”. Nhưng, lý lẽ riêng của trái tim là gì ? Đó phải chăng là cảm xúc và sự lựa chọn của nó ? Quả thật, cảm xúc của trái tim dạt dào và sự lựa chọn cũng rất riêng tư. Đứng trước một tuyệt phẩm hai người bạn thân không có cùng cảm xúc và cũng ít có sự lựa chọn chung. Đó là lý lẽ của trái tim !

Tuy nhiên, nếu như trái tim gắn liền với cảm xúc thì cung bậc của nó cũng rất biến tấu và không mấy cố hữu. Trái tim vần xoay như thể thiên nhiên theo bốn mùa xuân – hạ - thu - đông. Trái tim nồng ấm, trái tim giá lạnh ; trái tim của sự nhiệt huyết và của sự hững hờ.

Trước Pascal, Augustinô (354-430), giám mục thành Hippone (Bắc Phi) lại nói về “trái tim hiểu biết”. Đó là trái tim của lý trí và biết lắng nghe. Nó không chỉ đập theo nhịp đập cảm xúc mà còn nhịp đập của sự hiểu biết. Nó là nơi của kinh nghiệm hiện sinh. Kinh nghiệm này đưa ta đi xa hơn trong việc tìm ý nghĩa cuộc sống. Cuộc hành trình tìm kiếm này được thực hiện bằng cả lý trí lẫn cảm xúc. Như bất chợt một ý nghĩ, một cảm xúc nào đó làm trái tim rung động và thúc đẩy ta tìm kiếm. Việc tìm kiếm lớn lao nhất là đi tìm ý nghĩa cuộc sống và Đấng mời gọi ta đến với điều thiện hảo.

Gần chúng ta, trong thời đại trái ngược giữa khuynh hướng đa cảm - người ta dễ bị kích động bởi hình ảnh và lý trí độc đoán, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong thông điệp Caritas in veritate (Yêu thương trong sự thật, 2009) nhấn mạnh mối tương quan hỗ tương mang tính xây dựng giữa hai yếu tố “tình yêu” và “sự thật”. Tình yêu không chỉ cảm xúc, nhưng còn “yêu thương trong sự thật”. Sự thật không chỉ là thứ nguyên lý xơ cứng, nhưng là nhịp đập của trái tim biết lắng nghe.

Tóm lại, trái tim hiểu biết mách bảo con người tìm kiếm sự khôn ngoan. Hơn nữa, theo truyền thống Kinh Thánh, đức không ngoan phản ảnh dung mạo Đấng Tối Cao. Quả vậy, sách Khôn ngoan nói về đức khôn ngoan bằng từ ngữ sau : “Đức Khôn Ngoan là kho báu vô tận cho con người. Chiếm được Đức Khôn Ngoan là được nên bạn hữu với Thiên Chúa, và được Người tin cậy, vì đã tiếp nhận lời dạy dỗ bảo ban” (Kn 7,14). Trái tim hiểu biết là trái tim của người tìm kiếm Thiên Chúa.


Trần Văn Khuê

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

KINH NGHIỆM THỜI GIAN, KINH NGHIỆM VỀ SỰ HIỆN HỮU


Sự vận hành thời gian được rút gọn cách dễ hiểu hơn theo nguyên lý vật lý. Cách tính thời gian không chỉ chiếu theo sự chuyển vần thiên nhiên : Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhưng còn thuộc phạm trù quy ước mang tính khoa học. Tuy nhiên, thời gian còn là khái niệm triết học rộng lớn bao trùm kinh nghiệm hiện sinh. Thời gian vật lý, nhưng còn là tâm lý và tâm linh. Hơn nữa, nó còn được soi chiếu dưới ánh sáng niềm tin tôn giáo : khởi nguyên và cánh chung ; khởi đầu và kết thúc ; bất biến và vô cùng. Cuộc sống con người là sự trải nghiệm về thời gian. Kinh nghiệm con người về thời gian vừa là hữu hạn và vô hạn.

Kinh nghiệm thời gian như kinh nghiệm về sự hữu hạn

Theo dòng thời gian mọi sự trở nên phôi phai và theo dòng thời gian mọi vật trở nên hao mòn. Đó là kinh nghiệm thuần túy của con người về thời gian. Với thời gian hình như tất cả đi về hồi kết thúc và lùi vào dĩ vãng. Không còn tuổi thơ hồn nhiên tung cánh thiên thần, không còn tuổi trẻ tràn đầy sức sống, không còn cái tuổi của sự nghiệp công danh đầy tham vọng. Tất cả chỉ còn là hoài niệm. Niềm đam mê cuộc sống nhiều lúc cũng cạn dần và mối tương quan con người cũng mai một.

Người ta chạy đua với thời gian và chiến đấu với nó. Cuối cuộc đua con người mệt mỏi. Lúc dừng lại trong giây lát ta thấy bất lực, tất cả đều vô nghĩa, cảm thấy hối tiếc. Kiếp con người không thể vượt khỏi cái hữu hạn trong thời gian. Câu hỏi cuối cùng về con người cũng là câu hỏi về chính tôi : tôi là ai và sống cho điều gì khi không thể níu kéo thời gian cũng không thể vượt thời gian ? Đó là kinh nghiệm về sự hữu hạn.

Kinh nghiệm thời gian như kinh nghiệm về sự vô tận

Tuy nhiên, kinh nghiệm về thời gian còn là kinh nghiệm về sự vô tận. Trải nghiệm từng biến cố luôn độc đáo. Ta đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác mà không bao giờ được định trước. Thời gian như sự đổi mới vô tận. Nó đưa ta vào thế giới và vũ trụ bao la, nơi đó khát khao tìm kiếm hạnh phúc vô biên. Mối tương quan thì hữu hạn, nhưng tình yêu thì vô hạn trong sự vô tận của thời gian.

Thời gian là thứ, cái và điều lớn lao hơn ta. Ta để mình cuốn hút vào trong đó và cảm nghiệm nó. Thời gian không chỉ hôm nay mà còn ngày mai và mãi mãi. Cái hữu hạn thời gian con người người được bao trùm bởi sự vô hạn. Ta là điểm nhấn và điểm sáng trong dòng vô tận thời gian. Con người nhỏ bé, nhưng lớn chan hòa trong cái vô tận.

Kinh nghiệm về sự vô tận là kinh nghiệm tìn kiếm cái vượt khỏi chúng ta, nhưng ta vẫn luôn tìm nó. Chính đều này đưa tra ra khỏi ý tưởng thời gian vật lý để đi vào kinh nghiện về sự hiện hữu. Sự hiện hữu trong thời gian, nhưng vượt thời gian. Đó là điều đưa ta tới ý tưởng về huyền nhiệm cuộc sống : mong manh như sợi tơ hồng, nhưng lung linh như dải ngân hà trong vũ trụ bao la và sự vô tận.

Kinh nghiệm thời gian là kinh nghiệm về sự hiện hữu !

Trần Văn Khuê