Thứ Sáu, ngày 26 tháng 6 năm 2015

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN


Khi các Tông đồ xin Chúa Giêsu tăng thêm ơn đức tin : “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”, Chúa trả lời họ : “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này : hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (x. Lc 17,5-6). Hình ảnh trong cuộc đối thoại này gợi nhớ cho ta câu chuyện dụ ngôn khác : “Dụ ngôn hạt cải”, mà Chúa Giêsu dùng để nói về Nước Trời. Cả ba cuốn Tin Mừng Nhất lãm trình thuật lời của Chúa Giêsu như sau : “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được” (x. Lc 13,18-19 ; Mt 13,31-32 ; Mc 4,30-32).

Đức tin được trình bày trong giáo lý và thần học Công giáo dựa trên Lời Chúa là ơn siêu nhiên mà Thiên Chúa ban để con người có thể nhận biết Ngài. Nói cách khác, con người biết Thiên Chúa qua mạc khải của Ngài – sự tỏ mình ra của Thiên Chúa cho con người, như lời của Thánh vịnh : “Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng” (Tv 26,10). Ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi mọi người qua Ngôi Lời nhập thể là Đức Giêsu Kitô (Ga 1,9). Hay còn nữa, Chúa Giêsu nói với Phêrô : “Này anh Simon, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Chính Thiên Chúa lôi cuốn con người tìm về với Ngài, vì Ngài là cội nguồn của sự thánh thiện và mọi điều thiện hảo.

Mặt khác, đức tin mang cho con người hiệu năng là sự biến đổi. Tính chất biến đổi là làm cho đời sống con người tăng trưởng, như hạt giống được gieo vào lòng đất và sinh hoa kết trái. Đức tin là hạt giống mà Thiên Chúa gieo vào tâm hồn con người. Nhờ hạt giống đức tin này đời sống con người được biến đổi, để rồi con người đức tin sống hoàn toàn khác trong Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết cho tín hữu thành Thêxalônica : “Chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1Tx 4,13). Niềm hy vọng đó chính là tin vào Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô là Đấng mà Chúa Cha sai đến với nhân loại.

Hôm nay chúng ta nói tới khủng khoảng niềm tin. Niềm tin này trước hết là tin vào Thiên Chúa. Nhiều người không còn tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn năng và an bài mọi sự trong trời đất cũng như là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo và tình yêu. Khuynh hướng này kéo theo khủng khoảng niềm tin con người. Con người đánh mất ý tưởng sống chung và khả năng cùng nhau xây dựng thế giới quy hướng về Chân-Thiện-Mỹ. Đó cũng là lý do mà Công đồng Vaticanô II đưa ra nhận định sâu sắc về mâu thuẫn của con người hôm nay : “Khi tìm cách đi sâu hơn vào thâm tâm mình, con người nhiều khi lại cảm thấy hoang mang hơn về chính mình. Khi dò dẫm tìm hiểu sâu rộng hơn những luật lệ của đời sống xã hội, con người lại do dự không dám định đoạt hướng đi cho mình” (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, số 4).

Hạt giống đức tin là cốt lõi của đời sống con người. Dù con người là ai đi nữa thì đức tin là ân sủng Thiên Chúa làm cho đời sống con người trở nên “phong phú về mọi phương diện” (x. 1Cr 1,5). Nhờ đức tin con người sống hy vọng, khả năng đối diện với thử thách, biết sống quảng đại, sẳn sàng hòa giải. Cũng vậy, nhờ đức tin mà con người dám chắc về sự sống chiến thắng sự chết. Hạt giống đức tin đưa con người tới chân trời tương lai, nơi đó không phải là thế giới ảo vọng nhưng là sự viên mãn của đời sống. 


Trần Văn Khuê 

Thứ Tư, ngày 03 tháng 6 năm 2015

CHÚT TẤM LÒNG


Ngoại trừ ít khác biệt trong Tin Mừng theo thánh Gioan, các tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều trình bày về việc “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều” với tình tiết : “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương”, “các môn đệ đến gần Người và thưa : “Ở đây hoang vắng và bây giờ đã khá muộn. Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua thức ăn”, “Đức Giêsu đáp : “Thì anh em cho họ ăn”, “các môn đệ đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá” (x. Mt 14,13-21 ; Mc 6,30-44 ; Lc 9,10-17).

Cũng giống như nhiều đoạn Tin Mừng khác, trình thuật về “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều” chứa đựng đầy ẩn ý, cho dù thánh Gioan giải thích : “Người nói như thế [“Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?”] là để thử ông [Philípphê], chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi (x. Ga 6,1-14). Phải chăng Chúa Giêsu đang thử thách các môn đệ về việc sử dụng quyền bính ? Bởi lẽ, đoạn Tin Mừng này được đặt trong bối cảnh : “Các Tông đồ tụ họp chung quanh Đức Giêsu, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy” (x. Mc 6,30), trước khi “đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người”. Hay, Chúa Giêsu lại muốn biết mức độ tin tưởng của môn đệ vào quyền năng của Thiên Chúa nơi Người như thế nào ? Câu hỏi thứ hai này liên quan tới đoạn tiếp theo của Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Máccô và Gioan : “Đức Giêsu đi trên mặt nước” (x. Mt 14,22-32 ; Mc 6,45-52 ; Ga 6,16-21). Ngoại trừ Tin Mừng theo thánh Luca nói về việc tuyên xưng đức tin của Phêrô (x. Lc 9,18-21).

Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa trên theo trình thuật của Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa cần một tấm lòng nơi con người qua phép lạ “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều”. Nhiều người vẫn tự hỏi Thiên Chúa còn làm dấu lạ nữa hay chăng trong đời sống nhân loại hôm nay, khi mà xem chừng Thiên Chúa vắng bóng trong mọi biến cố con người ? Con người không còn khả năng nhìn thấy điều kỳ diệu hay Thiên Chúa không còn đủ khả năng để can thiệp vào đời sống con người ? Các câu hỏi này không thể làm giảm tính chất nền tảng là Thiên Chúa không thể ban thêm cho con người đặc ân, không phải vì Ngài hẹp hòi, nhưng vì lòng ích kỷ của con người không còn chỗ cho sự quảng đại. Năm chiếc bánh và hai con cá là biểu tượng cho chút tấm lòng rộng mở. Chính chút tấm lòng này mở cánh cửa đưa đến sự sống viên mãn được Thiên Chúa đổ đầy.

Chút tấm lòng mang tính Tin Mừng, nhưng còn là phẩm chất đầy tính nhân văn. Sự khép kín hay tính toán quá đáng con người đang làm cho vẻ đẹp của nhân loại bị lu mờ và hoen úa. Cứu cánh con người là tìm kiếm những gì cao thượng có khả năng nâng đời sống con người lên trên mọi sự thấp hèn trần tục. Con người không chỉ được sinh ra cho thể xác nhưng còn tâm hồn. Chút tấm lòng rộng mở là vẻ đẹp của con người tạo dựng của Đấng tạo hóa.

Cũng vậy, chút tấm lòng mới có khả năng xây dựng nền hòa bình đích thực trong bác ái và sự thật. Bởi lẽ, cõi lòng chật hẹp là nguyên nhân của mọi tranh chấp và đố kỵ, chia rẽ và hận thù. Tấm lòng rộng mở là nhịp cầu nối giữa công lý và hòa bình, như lời cao đẹp của Thánh vịnh 84 :

“Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hòa bình công lý đã giao duyên.
Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao”.

Dẫu cho trong thế giới chúng ta sống kinh nghiệm về “chút tấm lòng” như trăng tàn sao lặn, hay như chiếc lá mùa thu thì nó vẫn mãi là cái nhỏ bé lớn lao làm nên điều kỳ diệu cuộc sống mà Thiên Chúa ban cho con người. Chút tấm lòng mở ra cho muôn người tràn ngập niềm vui : đau khổ được chữa lành, đói khát được no nê, tình yêu được chia sẻ và niềm tin tưởng được củng cố.   


Trần Văn Khuê

Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

KHƠI DẬY LÒNG YÊU MẾN HIỂU BIẾT

Triết gia người Đức, Emmanuel Kant, cho rằng mọi hoạt động nhân loại hệ tại ở việc giáo dục : sự phát triển con người, xã hội và thăng tiến đời sống khởi đi từ việc giáo dục[1]. Tuy nhiên, giáo dục là một tiến trình lâu dài theo trật tự mang tính sư phạm. Chính vì thế, sự lắp ghép nhiều mảng rời rạc trong hệ thống giáo dục và giải pháp tình thế đưa đến kết quả tiêu cực. Giáo dục mang tính tổng thể bao trùm toàn bộ mọi giai đoạn phát triển con người thể chất và trí tuệ cũng như bối cảnh đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa và tôn giáo. Giáo dục bắt đầu từ nền tảng sơ khởi. Bước khởi đầu là khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết.

Lòng yêu mến hiểu biết như mảnh đất được vun xới và chăm bón để đón nhận hạt giống gieo vào lòng nó. Hạt giống của lời khôn ngoan chỉ có thể nẩy mầm và phát triển nếu nó bắt gặp được mảnh đất tươi tốt. Điều này đã được Chúa Giêsu giảng dạy nơi câu chuyện dụ ngôn về người gieo giống trong Phúc Âm[2], cũng như hiểu biết của chúng ta từ kinh nghiệm ít hay nhiều của mọi người. Vun xới cho lòng yêu mến hiểu biết trở nên màu mỡ là bước khởi đầu cho giáo dục. Công việc này đòi hỏi sự kiên trì và ý chí của người làm vườn. Bởi lẽ, có mảnh đất đòi hỏi nhiều thời gian để gạt bỏ dần sỏi đá, gai góc và cần được vun xới nhiều. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết chính là làm cho tâm hôn trở nên tươi tốt để đón nhận sự khôn ngoan và hiểu biết điều thiện.

Lòng yêu mến hiểu biết là thái độ sẳn sàng đón nhận trong lắng nghe và hướng về Chân-Thiện-Mỹ. Câu ngạn ngữ của người Tây phương : “On ne saurait faire boire un âne s’il n’a pas soif”  - người ta không thể cho con lừa không khát uống nước. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là làm cho khát vọng tìm kiếm sự khôn ngoan lớn lên trong lòng con người. Nó tạo dựng nền móng tinh thần cho việc đối thoại và hoán cải nội tâm. Quả thật, người ta khó có khả năng đối thoại với nhau và hoán cải vì thiếu lòng yêu mến hiểu biết. Sự khép kín hoặc bị giam hãm trong giáo điều có nguy cơ làm cho tâm hồn trở nên khô cằn, sỏi đá và gai góc.

Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là nền tảng căn bản của giáo dục và con đường nhân bản hóa con người. Nó mở đường cho con người tới thế giới, nơi đó đòi hỏi con người rộng mở tâm hồn. Đây là tiến trình xây dựng nhân cách và giúp con người cởi mở với thế giới bên ngoài. Sự co cụm trong thế giới chủ quan là ngục tù của tâm hồn. Điều gây nguy hiểm cho thế giới chính là con người đánh mất sự vươn cao tinh thần, tìm kiếm hiểu biết và trải rộng lòng nhân ái. Khơi dậy lòng yêu mến hiểu biết là đưa con người tới hoàn thiện đời sống với chiều kích : tinh thần, trí tuệ và nhân bản.

Trần Văn Khuê



[1] Emmanuel Kant, Traité de pédagogie.
[2] X. Mt 13, 1-9 ; Mc 4, 1-20 ; Lc 8, 4-8.

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12 năm 2014

HẠNH PHÚC LÀM NGƯỜI KITÔ HỮU


Hạnh phúc là chủ đề suy tư lớn nhất về cuộc sống con người nơi nhiều dòng tư tưởng. Người ta đồng ý với nhau rằng hạnh phúc là mục tiêu tối hậu của con người trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Tuy nhiên, hạnh phúc là gì thì vẫn mãi là vấn đề tranh cãi. Chính Aristote, triết gia cổ Hy Lạp, có nhiều suy tư về hạnh phúc, trong tác phẩm của ông : “Ethique à Nicomaque”, cũng phải thừa nhận : hạnh phúc chỉ mang tính tương đối. Bởi lẽ, hạnh phúc là cái nhà hay chiếc xe, hạnh phúc là sức khỏe hay sắc đẹp, hạnh phúc là công danh sự nghiệp hay cuộc sống bình dị, ….? Tất cả tùy thuộc nơi con người riêng biệt và vào hoàn cảnh đặc biệt.

Từ cảm nghiệm và chia sẻ thì một trong những hạnh phúc lớn nhất là làm người Kitô hữu. Đó không phải vì Kitô giáo là nguồn xuất phát của nhiều lễ hội, nhưng trước hết, Kitô giáo đưa con người hòa quyện vào giữa Trời và Đất. Quả thật, qua công trình tạo dựng, Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại và làm thành với lịch sử con người, bởi vì “không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (x. Ga 1, 3). Vũ trụ là nơi vạn vật sinh sống và cũng là nơi Thiên Chúa cư ngụ. Hơn nữa, Thiên Chúa còn tự mặc lấy cho mình dung mạo con người nơi Mầu nhiệm Nhập thể : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (x. Ga 1, 14). Con người được trở nên hoàn hảo nơi việc Trời - Đất giao duyên.

Kitô giáo còn giúp con người chân nhận phẩm giá vốn có của chính mình. Phẩm giá này không phải được ban phát hay tự quyết bởi bất cứ ai, ngoài Đấng là Nguồn mạch sự sống : “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (x. Ga 1, 16). Phẩm giá lớn lao nhất là con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, mang nơi mình chiều kích thánh thiêng bất khả xâm phạm, khả năng lý trí để nhận biết giá trị siêu việt cũng như khả năng phân biệt thiện ác qua tiếng nói lương tâm và tự do chọn lựa có trách nhiệm, như trình bày của Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng. Con người vì thế không chỉ nhỏ bé nơi thân phận phàm nhân, nhưng còn lớn lao trong tước vị làm con Thiên Chúa.

Hơn nữa, Kitô giáo, qua ánh sáng Lời Chúa, chỉ cho con người con đường đạt tới hạnh phúc. Con đường này là con đường nội tâm được mô tả một phần trong Tám Mối Phúc :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5, 3-10).

Ý nghĩa lược diễn từ Tám Mối Phúc này : cần có tâm hồn nghèo khó để đón nhận ; sống hiền lành nhằm chung hưởng Đất Hứa ; trải nghiệm sầu khổ để cho người được hỷ hoan ; nên người công chính cho cuộc sống tròn đầy ; xót thương cho con người được yêu mến ; với tâm hồn trong sạch để nhìn thấy mọi sự thiện hảo ; xây dựng hòa bình vì đó là Nước Thiên Chúa ; và can đảm sống công chính, vì là con đường dẫn tới sự sống muôn đời.

Hẳn tôi và bạn, chúng ta hạnh phúc là người Kitô hữu.


Trần Văn Khuê

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

KHI HỆ TƯ TƯỞNG TRỞ NÊN PHI LÝ

(Ảnh : Bức điêu khắc nói về thảm họa diệt chủng của Hít-le tại vườn Viện bảo tàng Shoah ở Jerusalem)

Một khi xã hội bùng nổ nhiều vấn đề như khủng hoảng giá trị, xung đột quyền lợi, bất công, lạm quyền, tham ô, nền nhân bản xuống cấp…. chúng ta không thể không đặt lại vấn đề về hệ tư tưởng chi phối đời sống xã hội. Khi đặt vấn đề chúng ta cho thấy mình là người có khả năng lý trí, biết phản tỉnh và sống đời sống trách nhiệm. Chính khả năng này giúp thăng tiến đời sống con người và xã hội mà nơi đó mỗi người chúng ta là nhân tố cấu thành.

Cộng đồng xã hội con người cần đến hệ tư tưởng để định hình đời sống và hướng đi. Nó là nền tảng đặt nền móng cho sự phát triển. Con người mang xã hội tính, tức là khả năng và khuynh hướng sống chung. Tuy nhiên, con người cần điểm tựa để xác định giá trị và đảm bảo tính vững chắc mang tính nhân văn cho đời sống chung. Cho tới hôm nay, trong lãnh vực chính trị, hầu hết các nước chọn “nền cộng hòa” – quyền tối cao thuộc về cơ quan dân cử, làm nền tảng xã hội.

Như vậy, hệ tư tưởng có tầm quan trọng là thiết lập đời sống xã hội và hơn hết nó thổi “hồn” vào cơ cấu xã hội. Nó cũng là tiền đề để xây dựng giá trị mang tính nền tảng và truyền thống của một cộng đồng nhân loại. Nhìn vào xã hội hôm nay chúng ta nhận thấy khủng hoảng xã hội bao hàm lãnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục… cũng chính là khủng hoảng của hệ tư tưởng.

Khi hệ tư tưởng trở nên phi lý, nó trở nên phi nhân bản và bạo lực. Paul Ricœur, triết gia người Pháp (1913-2005), trong tác phẩm “L’Idéologie et l’Utopie”[1] (tạm dịch : Chủ thuyết không tưởng và sự mơ tưởng), dành một phần để bàn về tư tưởng của Mác. Trong đó ông đặt ra một số vấn đề nơi tư tưởng mác-xít trở thành vấn nạn xã hội.

Trước hết, thay đổi đời sống con người bằng cách thay đổi tư tưởng của họ : “Chúng ta hãy giải phóng họ khỏi mọi ảo vọng, tư tưởng, giáo điều, thoát khỏi hữu thể ảo tưởng mang lấy gánh nặng làm họ vàng vọt xanh xao. Chúng ta hãy trỗi dậy chống lại sự thống trị của tư tưởng. Chúng ta hãy dạy cho con người thay ảo tưởng này bằng tư tưởng phù hợp với bản chất con người […] và thực tại sẽ bị phá vỡ”[2]. Điều đáng ghi nhận như một số người nhận định, đó là “một sự khởi xướng về thay đổi triệt để”. Tuy nhiên, Paul Ricœur nhấn mạnh : “Thứ chủ thuyết không tưởng bị chỉ trích ở đây, đó là nó tham vọng thay đổi đời sống con người chỉ cần thay đổi tư tưởng của họ”[3]. Quả thật, chúng ta không thể “tẩy não” con người qua việc “cải tạo” họ. Trong khi đó, tư tưởng nói lên con người khả năng trí tuệ vốn là đặc tính gắn liền với thiên chức con người.

Tiếp đến, vấn đề đấu tranh giai cấp. Paul Ricœur nói đây là quan điểm mang đậm tư tưởng chiến tranh, chứ không tinh thần đại đồng. Nhân danh người nghèo và giai cấp vô sản, người ta giết chết người khác. Chính vì thế trong cuốn sách “Frères dans le Christ” (tạm dịch : Anh em trong Chúa Kitô), Đức Hồng Y Ratzinger (Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI) viết khi nói về cuộc cách mạng và phong trào giai cấp vô sản mà chủ nghĩa cộng sản khởi xướng qua việc đấu tranh giai cấp : “Không còn gì được gọi là tình huynh đệ bình đẳng giữa mọi người. Thay vào đó, nhân loại bị phân rẽ thành hai nhóm đối nghịch nhau một cách triệt để : tư bản và vô sản, mà phép biện chứng về thù nghịch làm kiệt quệ bản chất của lịch sử”[4]. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI còn bàn về vấn đề này một lần nữa trong Thông điệp của ngài “Về niềm hy vọng Kitô giáo”.

Cuối cùng, về vấn đề lương tâm. Paul Ricœur ghi nhận cách trình bày của Mác về luơng tâm mang tính hiện sinh : “lương tâm không mang tính tự trị, nhưng nó gắn liền với tiến trình đời sống thực của hữu thể con người”[5] như chính ông đã viết : “không phải lương tâm định đoạt đời sống, nhưng đời sống định đoạt lương tâm”[6]. Tóm lại, Paul Ricœur nói về lương tâm của Mác : “Đối với Mác, lương tâm không phải là khái niệm khởi đầu, nhưng đó là khái niệm mà chúng ta đạt tới. Vấn đề lương tâm chỉ tới sau khi người ta đã xem xét bốn điểm quan trọng : sản xuất vật chất, nhu cầu, sản sinh, và hợp tác giữa cá nhân trong các đợn vị xã hội. Lương tâm không phải là nền tảng mà chỉ là điều thứ yếu”[7]. Như vậy, chúng ta nhận thấy rất khó khi phải đề cập đến vấn đề lương tâm như yếu tố xác định hành vi đạo đức.

Tóm lại, khi hệ tư tưởng trở nên phi lý nó chỉ là sự phá hủy và không còn khả năng thiết lập hay kiến tạo một xã hội công bình và huynh đệ. Sự níu kéo điều phi lý đến mức mù lòa với điều thiện đi ngược lại khuynh hướng con người vốn hướng thượng và đi tìm chân lý.

Trần Văn Khuê




[1] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Ed. Seuil, 1997 (Lectures on Ideology and Utopia, Columbia University Press, New York, 1986).
[2] Paul Ricœur trích lại trong cuốn  L’Idéologie et l’Utopie, tr. 107.
[3] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 107.
[4] Joseph Ratzinger, Frères dans le Christ, Ed. du Cerf, 1962, p. 26.
[5] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 115.
[6] Paul Ricœur trích lại trong cuốn  L’Idéologie et l’Utopie, tr. 118.
[7] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 122.

Thứ Năm, ngày 30 tháng 10 năm 2014

CHÈO RA CHỖ NƯỚC SÂU MÀ THẢ LƯỚI

(Hình ảnh : Biển hồ Ga-li-lê)

Chúa Giêsu mời gọi thánh Phêrô “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”, và Người cũng mời gọi tất cả chúng ta đi xuống dưới dáng vẻ bên ngoài để thể hiện một cuộc sống thâm trầm hơn, có ý thức và có ý nghĩa hơn. Nếu bạn đáp lại lời mời gọi ấy, thì đâu là đòi hỏi cụ thể mà bạn phải thực hiện trong cuộc sống mỗi ngày ? Nơi bản thân, đâu là chỗ mà bạn cảm thấy có sự kháng cự làm bạn khước từ lời mời gọi “đi xuống sâu hơn” ?

Qua trình thuật về câu chuyện kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Lc 5, 1 - 9), thánh sử Luca đã chuyển tải lời mời gọi của Chúa Giêsu một cách sinh động, khi Người bảo các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Qua đó, Người cũng đảm bảo rằng, bất cứ điều gì chúng ta khám phá được nơi bản thân mình, đều có thể được biến đổi nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Sau một đêm vất vả luống công và chán nản, Phêrô cùng với bạn chài đang giặt lưới và chuẩn bị nghỉ việc. Bỗng Chúa Giêsu xuất hiện và giảng dạy cho dân chúng. Vì dân chúng chen lấn muốn đến gần Người, nên Chúa Giêsu xuống thuyền của Phêrô và xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Sau đó, Người bảo ông “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Thoạt tiên ông chống cự lại lời yêu cầu của Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được gì”. Nhưng, cuối cùng Phêrô dịu lại và thưa : “...Nếu Thầy đã nói thế thì tôi sẽ thả lưới”. Họ đã bắt được rất nhiều cá, hầu như rách cả lưới. Họ gọi bạn chài mang thuyền đến giúp và đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

Việc Chúa Giêsu chỉ dạy các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới có thể được xem như hành động mời gọi chúng ta nhận biết mình và đi vào đời sống nội tâm. Sự phản kháng của Phêrô cũng phản ánh thái độ miễn cưỡng và lo sợ mà chúng ta cảm nghiệm, khi chúng ta được kêu gọi rời bỏ cuộc sống hời hợt để đi vào trong con người thâm sâu của mình. Chúng ta lo lắng không biết mình sẽ gặp thấy gì trong cõi thâm sâu. Chúng ta tự nhủ, liệu những gì chúng ta gặt hái được có đáng để phấn đấu và chấp nhận đau đớn có thể xảy ra không. Sau mẻ cá kỳ diệu, Phêrô đã run sợ sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và nói : “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Cũng vậy, con người phản kháng và lo sợ của chúng ta cần nghe lời trấn an của Chúa Giêsu : “Đừng sợ ! Từ nay con sẽ là người đi thu phục người ta”. Qua lời trấn an đó, chúng ta có thể nghe Chúa Giêsu Phục Sinh nói rằng : “Đừng sợ! Thầy sẽ ở với anh em. Tất cả những gì anh em tìm thấy nơi đáy lòng mình, Thầy sẽ sử dụng để làm lợi cho anh em”. Là môn đệ Chúa Giêsu trong thời đại hôm nay, chúng ta cũng được Người cam đoan : nếu chúng ta phát huy việc nhận biết mình và sự toàn vẹn, thì qua con người trọn vẹn của chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta bắt được một mẻ cá lớn nhằm nuôi dưỡng bản thân mình cũng như cho người khác.

Sử dụng một hình ảnh khác trong Tin Mừng, chúng ta có thể nói rằng, Linh đạo Kitô giáo là một hành trình băng qua cánh đồng là chính con người chúng ta, để khám phá ra kho báu đã được chôn giấu trong đó. Kho báu là nơi Thiên Chúa hiện diện, như Chúa Giêsu đã nói : “Nước Trời giống như một kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi đi bán tất cả...mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13, 44). Hành trình nội tâm là chuyến đi vất vả, băng qua nhiều lớp ý thức của tinh thần. Hành trình này làm chúng ta hoảng sợ, bởi vì phải đối phó với một địa hình mà chúng ta chưa biết. Cha Gerard Hugles, tu sĩ dòng Tên, quả quyết rằng : “Hành trình này luôn luôn bao gồm sự nghi nan, đau khổ và bối rối nhất định. Cảm xúc tiêu cực ấy là lực đẩy nhẹ nhàng của Thiên Chúa”. Tin tưởng vào sự nâng đỡ đầy yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta có thể tiếp tục lên đường ; đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu mà đi xuống sâu hơn, và chúng ta sẽ ngỡ ngàng khi khám phá được Nước Thiên Chúa đang ở trong lòng chúng ta.


E. Trúc Giang, spc

Thứ Ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

ĐIỀU KÌ DIỆU

Có lúc ta cầu mong điều kì diệu đến, nhưng nó không xảy ra. Có khi ta mơ màng về một chương trình vĩ đại mong được thực hiện như : tư tưởng, sáng kiến hay một chân trời mới, nhưng đều bất thể. Điều kì diệu đối với ta nhiều lúc quá xa vời vợi và quá cao chót vót. Điều kì diệu trong tâm tưởng mãi là điều kì diệu siêu thực.

Điều kì diệu đích thực trái với khuynh hướng siêu tưởng. Nó gắn liền với thực thể sống, vì nó là cuộc sống. Sự sống là điều kì diệu trước tiên và ai đang cố gắng thăng tiến đời sống là thực hiện điều kì diệu trong đời sống. Xã hội chúng ta có quá nhiều giả thiết. Lắm lúc chúng làm cho con người sống trong ảo giác và dẫn đưa con người tìm kiếm điều siêu thực. Điều làm cho con người tách lìa với thực tại trần thế không phải là việc người ta đi tìm giá trị siêu việt hay đối với tín hữu đó là đi tìm Thiên Chúa, nhưng chính việc con người biến thực tại thành thế giới kì ảo : nơi đó người ta không còn có thể chân nhận dung mạo của con người đích thực và ý nghĩa cuộc sống cũng như điều kì diệu trong nó.

Điều kì diệu được bộc lộ nơi tấm lòng : nó là sự phản chiếu của điều kì diệu. Quả thật, chúng ta ngưỡng mộ tấm lòng không vị kỷ và con người dấn thân vô vị lợi. Câu chuyện về ai đó dám hy sinh đời sống mình vì người khác qua tiếng nói và hành động đọng lại nơi chúng ta hình ảnh của điều kì diệu. Nó sống mãi cách sống động trong ký ức con người. Nó không cần sự đánh bóng để tồn tại và tỏa sáng. Trái lại, nó mang giai điệu âm vang sâu lắng trong tĩnh lặng. Tiếng nói của điều kì diệu nhỏ nhẹ và dịu dàng. Chỉ ai có trái tim nhạy cảm biết lắng nghe mới nhận ra điều kì diệu.

Điều kì diệu còn trở nên mộc mạc và đơn sơ. Nơi nó không có mưu toan. Nụ cười của tấm lòng chân thật rạng rỡ hơn bất cứ gì. Con người kì diệu sẵn sàng cho đi tất cả chỉ vì tình yêu. Phần lớn điều kì diệu tiềm ẩn nơi con người tầm thường. Họ tầm thường đến mức mà tính tầm thường nơi họ trở nên điều kì diệu : đáng ngưỡng mộ. Sự cách biệt giữa con người là điều kì diệu được cất dấu. Sự mộc mạc không phải là thứ làm lóa mắt con người, nhưng làm trái tim rung động. Nó không đánh tráo và gian lận. Nó không khoa trương và cường điệu. Nó là thực tại ít được phát hiện, nhưng nó được cảm nhận bằng trái tim biết nhìn thấy.  

Đi tìm điều kì diệu, chúng ta đến với cuộc sống mà nơi đó chúng ta bắt gặp con người. Con người tầm thường, nhưng ẩn chứa điều kì diệu. Chính Thiên Chúa kì diệu đã ẩn dấu nơi con người và trở nên như mọi người. Hơn nữa, con người Giêsu đã sống ẩn dật trong suốt phần lớn thời gian của cuộc đời trần thế. Thời gian rao giảng của Người đầy sóng gió và ngập tràn sự chống đối. Cái chết là đoạn kết bi kịch nói lên sự bị loại bỏ. Thế nhưng, ai được ơn nhận biết nhìn thấy điều kì diệu của Thiên Chúa được bộc lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Chính Người trở thành nguồn sống cho mọi tín hữu xác tín. Để rồi, với dáng vẻ bề ngoài nghèo hèn họ là người cất dấu kho tàng điều kì diệu của Thiên Chúa nơi mình.


Trần Văn Khuê