Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

KHI HỆ TƯ TƯỞNG TRỞ NÊN PHI LÝ

(Ảnh : Bức điêu khắc nói về thảm họa diệt chủng của Hít-le tại vườn Viện bảo tàng Shoah ở Jerusalem)

Một khi xã hội bùng nổ nhiều vấn đề như khủng hoảng giá trị, xung đột quyền lợi, bất công, lạm quyền, tham ô, nền nhân bản xuống cấp…. chúng ta không thể không đặt lại vấn đề về hệ tư tưởng chi phối đời sống xã hội. Khi đặt vấn đề chúng ta cho thấy mình là người có khả năng lý trí, biết phản tỉnh và sống đời sống trách nhiệm. Chính khả năng này giúp thăng tiến đời sống con người và xã hội mà nơi đó mỗi người chúng ta là nhân tố cấu thành.

Cộng đồng xã hội con người cần đến hệ tư tưởng để định hình đời sống và hướng đi. Nó là nền tảng đặt nền móng cho sự phát triển. Con người mang xã hội tính, tức là khả năng và khuynh hướng sống chung. Tuy nhiên, con người cần điểm tựa để xác định giá trị và đảm bảo tính vững chắc mang tính nhân văn cho đời sống chung. Cho tới hôm nay, trong lãnh vực chính trị, hầu hết các nước chọn “nền cộng hòa” – quyền tối cao thuộc về cơ quan dân cử, làm nền tảng xã hội.

Như vậy, hệ tư tưởng có tầm quan trọng là thiết lập đời sống xã hội và hơn hết nó thổi “hồn” vào cơ cấu xã hội. Nó cũng là tiền đề để xây dựng giá trị mang tính nền tảng và truyền thống của một cộng đồng nhân loại. Nhìn vào xã hội hôm nay chúng ta nhận thấy khủng hoảng xã hội bao hàm lãnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục… cũng chính là khủng hoảng của hệ tư tưởng.

Khi hệ tư tưởng trở nên phi lý, nó trở nên phi nhân bản và bạo lực. Paul Ricœur, triết gia người Pháp (1913-2005), trong tác phẩm “L’Idéologie et l’Utopie”[1] (tạm dịch : Chủ thuyết không tưởng và sự mơ tưởng), dành một phần để bàn về tư tưởng của Mác. Trong đó ông đặt ra một số vấn đề nơi tư tưởng mác-xít trở thành vấn nạn xã hội.

Trước hết, thay đổi đời sống con người bằng cách thay đổi tư tưởng của họ : “Chúng ta hãy giải phóng họ khỏi mọi ảo vọng, tư tưởng, giáo điều, thoát khỏi hữu thể ảo tưởng mang lấy gánh nặng làm họ vàng vọt xanh xao. Chúng ta hãy trỗi dậy chống lại sự thống trị của tư tưởng. Chúng ta hãy dạy cho con người thay ảo tưởng này bằng tư tưởng phù hợp với bản chất con người […] và thực tại sẽ bị phá vỡ”[2]. Điều đáng ghi nhận như một số người nhận định, đó là “một sự khởi xướng về thay đổi triệt để”. Tuy nhiên, Paul Ricœur nhấn mạnh : “Thứ chủ thuyết không tưởng bị chỉ trích ở đây, đó là nó tham vọng thay đổi đời sống con người chỉ cần thay đổi tư tưởng của họ”[3]. Quả thật, chúng ta không thể “tẩy não” con người qua việc “cải tạo” họ. Trong khi đó, tư tưởng nói lên con người khả năng trí tuệ vốn là đặc tính gắn liền với thiên chức con người.

Tiếp đến, vấn đề đấu tranh giai cấp. Paul Ricœur nói đây là quan điểm mang đậm tư tưởng chiến tranh, chứ không tinh thần đại đồng. Nhân danh người nghèo và giai cấp vô sản, người ta giết chết người khác. Chính vì thế trong cuốn sách “Frères dans le Christ” (tạm dịch : Anh em trong Chúa Kitô), Đức Hồng Y Ratzinger (Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI) viết khi nói về cuộc cách mạng và phong trào giai cấp vô sản mà chủ nghĩa cộng sản khởi xướng qua việc đấu tranh giai cấp : “Không còn gì được gọi là tình huynh đệ bình đẳng giữa mọi người. Thay vào đó, nhân loại bị phân rẽ thành hai nhóm đối nghịch nhau một cách triệt để : tư bản và vô sản, mà phép biện chứng về thù nghịch làm kiệt quệ bản chất của lịch sử”[4]. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI còn bàn về vấn đề này một lần nữa trong Thông điệp của ngài “Về niềm hy vọng Kitô giáo”.

Cuối cùng, về vấn đề lương tâm. Paul Ricœur ghi nhận cách trình bày của Mác về luơng tâm mang tính hiện sinh : “lương tâm không mang tính tự trị, nhưng nó gắn liền với tiến trình đời sống thực của hữu thể con người”[5] như chính ông đã viết : “không phải lương tâm định đoạt đời sống, nhưng đời sống định đoạt lương tâm”[6]. Tóm lại, Paul Ricœur nói về lương tâm của Mác : “Đối với Mác, lương tâm không phải là khái niệm khởi đầu, nhưng đó là khái niệm mà chúng ta đạt tới. Vấn đề lương tâm chỉ tới sau khi người ta đã xem xét bốn điểm quan trọng : sản xuất vật chất, nhu cầu, sản sinh, và hợp tác giữa cá nhân trong các đợn vị xã hội. Lương tâm không phải là nền tảng mà chỉ là điều thứ yếu”[7]. Như vậy, chúng ta nhận thấy rất khó khi phải đề cập đến vấn đề lương tâm như yếu tố xác định hành vi đạo đức.

Tóm lại, khi hệ tư tưởng trở nên phi lý nó chỉ là sự phá hủy và không còn khả năng thiết lập hay kiến tạo một xã hội công bình và huynh đệ. Sự níu kéo điều phi lý đến mức mù lòa với điều thiện đi ngược lại khuynh hướng con người vốn hướng thượng và đi tìm chân lý.

Trần Văn Khuê




[1] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Ed. Seuil, 1997 (Lectures on Ideology and Utopia, Columbia University Press, New York, 1986).
[2] Paul Ricœur trích lại trong cuốn  L’Idéologie et l’Utopie, tr. 107.
[3] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 107.
[4] Joseph Ratzinger, Frères dans le Christ, Ed. du Cerf, 1962, p. 26.
[5] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 115.
[6] Paul Ricœur trích lại trong cuốn  L’Idéologie et l’Utopie, tr. 118.
[7] Paul Ricœur, L’Idéologie et l’Utopie, Seuil, 1997, p. 122.

Thứ Năm, ngày 30 tháng 10 năm 2014

CHÈO RA CHỖ NƯỚC SÂU MÀ THẢ LƯỚI

(Hình ảnh : Biển hồ Ga-li-lê)

Chúa Giêsu mời gọi thánh Phêrô “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”, và Người cũng mời gọi tất cả chúng ta đi xuống dưới dáng vẻ bên ngoài để thể hiện một cuộc sống thâm trầm hơn, có ý thức và có ý nghĩa hơn. Nếu bạn đáp lại lời mời gọi ấy, thì đâu là đòi hỏi cụ thể mà bạn phải thực hiện trong cuộc sống mỗi ngày ? Nơi bản thân, đâu là chỗ mà bạn cảm thấy có sự kháng cự làm bạn khước từ lời mời gọi “đi xuống sâu hơn” ?

Qua trình thuật về câu chuyện kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Lc 5, 1 - 9), thánh sử Luca đã chuyển tải lời mời gọi của Chúa Giêsu một cách sinh động, khi Người bảo các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Qua đó, Người cũng đảm bảo rằng, bất cứ điều gì chúng ta khám phá được nơi bản thân mình, đều có thể được biến đổi nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Sau một đêm vất vả luống công và chán nản, Phêrô cùng với bạn chài đang giặt lưới và chuẩn bị nghỉ việc. Bỗng Chúa Giêsu xuất hiện và giảng dạy cho dân chúng. Vì dân chúng chen lấn muốn đến gần Người, nên Chúa Giêsu xuống thuyền của Phêrô và xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Sau đó, Người bảo ông “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Thoạt tiên ông chống cự lại lời yêu cầu của Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được gì”. Nhưng, cuối cùng Phêrô dịu lại và thưa : “...Nếu Thầy đã nói thế thì tôi sẽ thả lưới”. Họ đã bắt được rất nhiều cá, hầu như rách cả lưới. Họ gọi bạn chài mang thuyền đến giúp và đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

Việc Chúa Giêsu chỉ dạy các môn đệ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới có thể được xem như hành động mời gọi chúng ta nhận biết mình và đi vào đời sống nội tâm. Sự phản kháng của Phêrô cũng phản ánh thái độ miễn cưỡng và lo sợ mà chúng ta cảm nghiệm, khi chúng ta được kêu gọi rời bỏ cuộc sống hời hợt để đi vào trong con người thâm sâu của mình. Chúng ta lo lắng không biết mình sẽ gặp thấy gì trong cõi thâm sâu. Chúng ta tự nhủ, liệu những gì chúng ta gặt hái được có đáng để phấn đấu và chấp nhận đau đớn có thể xảy ra không. Sau mẻ cá kỳ diệu, Phêrô đã run sợ sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và nói : “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Cũng vậy, con người phản kháng và lo sợ của chúng ta cần nghe lời trấn an của Chúa Giêsu : “Đừng sợ ! Từ nay con sẽ là người đi thu phục người ta”. Qua lời trấn an đó, chúng ta có thể nghe Chúa Giêsu Phục Sinh nói rằng : “Đừng sợ! Thầy sẽ ở với anh em. Tất cả những gì anh em tìm thấy nơi đáy lòng mình, Thầy sẽ sử dụng để làm lợi cho anh em”. Là môn đệ Chúa Giêsu trong thời đại hôm nay, chúng ta cũng được Người cam đoan : nếu chúng ta phát huy việc nhận biết mình và sự toàn vẹn, thì qua con người trọn vẹn của chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta bắt được một mẻ cá lớn nhằm nuôi dưỡng bản thân mình cũng như cho người khác.

Sử dụng một hình ảnh khác trong Tin Mừng, chúng ta có thể nói rằng, Linh đạo Kitô giáo là một hành trình băng qua cánh đồng là chính con người chúng ta, để khám phá ra kho báu đã được chôn giấu trong đó. Kho báu là nơi Thiên Chúa hiện diện, như Chúa Giêsu đã nói : “Nước Trời giống như một kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi đi bán tất cả...mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13, 44). Hành trình nội tâm là chuyến đi vất vả, băng qua nhiều lớp ý thức của tinh thần. Hành trình này làm chúng ta hoảng sợ, bởi vì phải đối phó với một địa hình mà chúng ta chưa biết. Cha Gerard Hugles, tu sĩ dòng Tên, quả quyết rằng : “Hành trình này luôn luôn bao gồm sự nghi nan, đau khổ và bối rối nhất định. Cảm xúc tiêu cực ấy là lực đẩy nhẹ nhàng của Thiên Chúa”. Tin tưởng vào sự nâng đỡ đầy yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta có thể tiếp tục lên đường ; đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu mà đi xuống sâu hơn, và chúng ta sẽ ngỡ ngàng khi khám phá được Nước Thiên Chúa đang ở trong lòng chúng ta.


E. Trúc Giang, spc

Thứ Ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

ĐIỀU KÌ DIỆU

Có lúc ta cầu mong điều kì diệu đến, nhưng nó không xảy ra. Có khi ta mơ màng về một chương trình vĩ đại mong được thực hiện như : tư tưởng, sáng kiến hay một chân trời mới, nhưng đều bất thể. Điều kì diệu đối với ta nhiều lúc quá xa vời vợi và quá cao chót vót. Điều kì diệu trong tâm tưởng mãi là điều kì diệu siêu thực.

Điều kì diệu đích thực trái với khuynh hướng siêu tưởng. Nó gắn liền với thực thể sống, vì nó là cuộc sống. Sự sống là điều kì diệu trước tiên và ai đang cố gắng thăng tiến đời sống là thực hiện điều kì diệu trong đời sống. Xã hội chúng ta có quá nhiều giả thiết. Lắm lúc chúng làm cho con người sống trong ảo giác và dẫn đưa con người tìm kiếm điều siêu thực. Điều làm cho con người tách lìa với thực tại trần thế không phải là việc người ta đi tìm giá trị siêu việt hay đối với tín hữu đó là đi tìm Thiên Chúa, nhưng chính việc con người biến thực tại thành thế giới kì ảo : nơi đó người ta không còn có thể chân nhận dung mạo của con người đích thực và ý nghĩa cuộc sống cũng như điều kì diệu trong nó.

Điều kì diệu được bộc lộ nơi tấm lòng : nó là sự phản chiếu của điều kì diệu. Quả thật, chúng ta ngưỡng mộ tấm lòng không vị kỷ và con người dấn thân vô vị lợi. Câu chuyện về ai đó dám hy sinh đời sống mình vì người khác qua tiếng nói và hành động đọng lại nơi chúng ta hình ảnh của điều kì diệu. Nó sống mãi cách sống động trong ký ức con người. Nó không cần sự đánh bóng để tồn tại và tỏa sáng. Trái lại, nó mang giai điệu âm vang sâu lắng trong tĩnh lặng. Tiếng nói của điều kì diệu nhỏ nhẹ và dịu dàng. Chỉ ai có trái tim nhạy cảm biết lắng nghe mới nhận ra điều kì diệu.

Điều kì diệu còn trở nên mộc mạc và đơn sơ. Nơi nó không có mưu toan. Nụ cười của tấm lòng chân thật rạng rỡ hơn bất cứ gì. Con người kì diệu sẵn sàng cho đi tất cả chỉ vì tình yêu. Phần lớn điều kì diệu tiềm ẩn nơi con người tầm thường. Họ tầm thường đến mức mà tính tầm thường nơi họ trở nên điều kì diệu : đáng ngưỡng mộ. Sự cách biệt giữa con người là điều kì diệu được cất dấu. Sự mộc mạc không phải là thứ làm lóa mắt con người, nhưng làm trái tim rung động. Nó không đánh tráo và gian lận. Nó không khoa trương và cường điệu. Nó là thực tại ít được phát hiện, nhưng nó được cảm nhận bằng trái tim biết nhìn thấy.  

Đi tìm điều kì diệu, chúng ta đến với cuộc sống mà nơi đó chúng ta bắt gặp con người. Con người tầm thường, nhưng ẩn chứa điều kì diệu. Chính Thiên Chúa kì diệu đã ẩn dấu nơi con người và trở nên như mọi người. Hơn nữa, con người Giêsu đã sống ẩn dật trong suốt phần lớn thời gian của cuộc đời trần thế. Thời gian rao giảng của Người đầy sóng gió và ngập tràn sự chống đối. Cái chết là đoạn kết bi kịch nói lên sự bị loại bỏ. Thế nhưng, ai được ơn nhận biết nhìn thấy điều kì diệu của Thiên Chúa được bộc lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Chính Người trở thành nguồn sống cho mọi tín hữu xác tín. Để rồi, với dáng vẻ bề ngoài nghèo hèn họ là người cất dấu kho tàng điều kì diệu của Thiên Chúa nơi mình.


Trần Văn Khuê

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

NIỀM VUI NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA GIÊ-SU

Trong một bài viết trước đây tôi nói về việc trở thành Ki-tô hữu hôm nay : người Ki-tô hữu sống xác tín, có khả năng đối diện với thách đố văn hóa mới, xây dựng “thế giới nhân bản” (x. http://saokhue-saokhue.blogspot.com/2011/05/tro-thanh-ki-to-huu-hom-nay.html). Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chưa đề cập đến con đường sống lý tưởng Ki-tô giáo lại là con đường đầy chông gai và thử thách. Phần thưởng dành cho ai yêu mến Chúa là sự đau khổ như kinh nghiệm của thánh nữ Tê-rê-xa Giê-su thành A-vi-la. Đau khổ này không thuộc bản chất Ki-tô giáo, nhưng là thứ đau khổ mà như Chúa Giê-su nói : “Vì danh Thầy anh em sẽ bị thù ghét” (x. Mt 10, 22).

Sống nơi vùng đất mang đậm dấu ấn từ con người khởi xướng phong trào cộng sản tôi gặp gỡ một số cụ ông cụ bà ở tuổi 80, 90 và cao hơn nữa, hồi tưởng về cuộc sống của người Công giáo trong giai đoạn chiến tranh – lúc mà người ta biến người nông dân chân lấm tay bùn thành người cộng sản giáo điều : sống cựa quyền và thi hành mệnh lệnh cách máy móc. Đôi mắt của các cụ long lanh khi kể nhiều câu chuyện buồn lịch sử. Chuyện của các cụ là chuỗi dài sự kiện nối tiếp nhau : từ chuyện vật chất tới con nguời. Có câu chuyện như qua một đêm con bò con trâu của nhà mình bổng chốc thành vật sử hữu của người khác, hay là lúa mới từ ngoài đồng về tới sân đã thuộc về người ta. Gia sản gia đình lần lượt ra đi vì cưỡng bức. Cái còn lại duy nhất là sự “câm lặng” và “lầm lũi”. Tất cả chỉ vì “ta là người có đạo”.

Tuy nhiên, hôm nay tôi vẫn thấy trên gương mặt của các cụ toát lên nét tinh thần thanh thoát và thấm đượm nơi tâm hồn lòng nhân ái : không hận thù và cũng không gian ngoa, nhưng là sự điềm đạm và lòng quảng đại. Toàn thân con người bộc lộ sự bình an tự tại và tâm trí biểu lộ lòng tin tưởng vững vàng vào Thiên Chúa quan phòng và tình yêu của Ngài. Các cụ nói chuyện với tất cả niềm xác tín sâu xa : “Có Chúa”, và không quên thêm vào câu nhấn : “con đã thấy như thế”. Tôi thật sự ngưỡng mộ tâm hồn tươi trẻ và tràn đầy sức sống nơi con người da nhăn, má hóp và lưng còm. Họ đích thực là người môn đệ mà Chúa Giê-su yêu mến. Niềm vui của họ cũng là niềm vui của người môn đệ đã sống và cảm nghiệm Thiên Chúa hiện hữu trong đời sống.

Trở thành Ki-tô hữu chúng ta không đi tìm sự đau khổ và cả cái chết. Tuy nhiên, trong đau khổ người môn đệ cảm nghiệm lời chúc phúc và lời hứa của Chúa Giê-su : “Phúc cho ai chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 10). Niềm vui của người môn đệ Chúa Giê-su là niềm vui Phúc Âm : niềm vui tình yêu, niềm vui tha thứ và niềm vui sống đời sống công chính. Niềm vui này loan báo Nước Trời – nơi đó không còn hận thù, chiến tranh, thái độ cực đoan giáo điều, nhưng là “bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (x. Rm 14, 17).

Niềm vui Phúc Âm của người môn đệ Chúa Giê-su là niềm vui hòa giải. Nó không phải là thứ thỏa hiệp theo phương châm : “Dĩ hòa vi quý”, hay chấp nhận tính tương đối về một lý tưởng sống hoặc ý thức hệ. Nhưng, đó là cung cách sống biểu lộ tinh thần quảng đại và vị tha. Thái độ sống này làm cho người môn đệ Chúa Giê-su có được tinh thần thanh thoát và niềm vui tràn đầy phát xuất từ tâm hồn của con người nội tâm.


Trần Văn Khuê

Thứ Hai, ngày 29 tháng 9 năm 2014

« VÔ VI » THEO TINH THẦN KITÔ GIÁO


(Ảnh : kênh đào Ézéchias, Thành Vua Đa-vít)

Tính cầu toàn hình như đang lan rộng trong đời sống xã hội hôm nay do ảnh hưởng của cơ cấu định chế. Người ta khó có thể phân biệt ranh giới giữa sự phấn đấu lành mạnh nhằm phát huy khả năng và đòi hỏi mang tính cầu toàn nhắm tới thành tích.

Khi nói tới khuynh hướng cầu toàn, chúng ta không muốn ám chỉ những nổ lực phát huy sở trường của mình, vốn là động lực thúc đẩy nhiều người đạt tới trình độ xuất chúng. Khi chúng ta quý trọng tiềm năng của mình và thích phấn đấu để đạt tới tiêu chuẩn cao, thì đó là hành vi lành mạnh. Trái lại, khi chúng ta đòi hỏi mình phải đạt tới một thành tích cao hơn khả năng mình có thể đạt được, thì đó là hành vi mang tính cầu toàn. Khi chúng ta đưa ra những kỳ vọng vô lý và không thể đạt được, bấy giờ chúng ta bị thúc bách phải ráng sức liên tục để vươn tới mục tiêu bất khả thi. Vì khuynh hướng cầu toàn mà chúng ta đo lường giá trị của mình dựa trên hiệu năng và thành tích của mình. Có một tiếng nói bên trong khiển trách ta làm chưa đủ, do đó ta không được phép cảm thấy hài lòng. Ngược lại, khi ta cảm thấy vui sướng vì mình đã làm hết khả năng mà không cần phải trở nên hoàn hảo, ta có thể hài lòng về nổ lực của mình, ngay cả khi còn có những chỗ có thể được cải thiện. Khi chúng ta bị kìm kẹp trong khuynh hướng cầu toàn, chúng ta thường cảm thấy lo âu, bối rối và cạn kiệt cảm xúc khi bắt đầu một nhiệm vụ mới. Chúng ta bị thôi thúc mãnh liệt bởi cảm xúc sợ thất bại hơn là bởi ước muốn cải thiện. Mặt khác, khi chúng ta nổ lực phát huy sở trường của mình một cách lành mạnh, thì rất có khả năng là chúng ta cảm thấy phấn khởi, đầy sinh lực và thấy rõ những gì cần phải làm.

Trong khi khuynh hướng cầu toàn là nguyên nhân khiến chúng ta bị thúc bách và ráng sức thì khái niệm vô vi trong Lão Giáo khuyên chúng ta đừng dùng vũ lực mà tác động lên hoàn cảnh, nhưng sống thuận theo hoàn cảnh, lăn theo đà và bơi xuôi dòng. Vô vi hay “phi hành động” là khái niệm phát xuất từ câu nói nổi tiếng của Lão Tử : “Đạo không làm gì, nhưng chẳng cò gì mà Đạo không thực hiện được.”[1] Vô vi khuyến khích chúng ta thư giãn và hội tụ mọi nỗ lực của mình cho đúng mục tiêu.

Người cầu toàn có khuynh hướng gia tăng tốc độ và cố gắng gấp đôi, mỗi khi họ gặp sự chống đối và trở ngại. Thay vì dựa vào sức lực của mình, vô vi khuyên chúng ta nên làm chậm lại, kiềm chế sự nóng vội và quan sát kỹ lưỡng mỗi khi gặp cản trở trong cuộc sống của mình.

Trong lãnh vực hoạt động của con người, vô vi là hình thức thông minh giúp ta hiểu biết những năng động trong công việc của loài người, nhờ đó mà chỉ cần sử dụng một chút năng lực là có thể giải quyết được vấn đề.

Tinh thần vô vi được diễn đạt trong truyền thống Kitô giáo : “Hãy buông bỏ và để Chúa lo liệu”. Lời khôn ngoan ấy khuyến khích chúng ta đặt niềm tin vững vàng vào ân sủng của Thiên Chúa, Đấng đang hoạt động trong đời sống chúng ta và thanh thản buông bỏ những gì mà hiện nay chúng ta không thể thay đổi. Con đường vô vi đặt nền tảng trên niềm tin vào Đạo, là nguyên lý của thực tại, mà Đạo tự bản chất là lòng nhân ái. Do đó, chúng ta đừng chống lại, đừng can thiệp hay cản trở dòng chảy sự sống. Cũng vậy, đối với ai yêu mến, thì thái độ “buông bỏ và để Chúa lo” đặt nền tảng trên đức tin vững vàng này : “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28). Dĩ nhiên là đức tin ấy phải lấy thái độ chiêm niệm mà nhận biết Thiên Chúa đang hoạt động trong mọi thực tại và đang làm việc vất vả để chúng ta được hạnh phúc. Đức tin Kitô giáo bảo đảm với chúng ta rằng, vì Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, thực tại tự bản chất thì tốt và Thiên Chúa là Đấng đáng tin. Các Kitô hữu được mời gọi phó thác vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa và tuân phục dòng chảy ân sủng của Người, vì “Người có thể làm gấp ngàn lần điều chúng ta dám cầu xin hay nghĩ tới” (Ep 3,20). Tin tưởng Thiên Chúa thì giống sự nổ lực thanh thản của vô vi hơn là sự ám ảnh, cưỡng bức của khuynh hướng cầu toàn.

Tóm lại, con đường vô vi là cách thức chống lại chướng ngại vật cản trở việc hợp tác do khuynh hướng cầu toàn tạo ra, vì con đường đó làm cho chúng ta bình tĩnh hơn, tin tưởng và kiên nhẫn với người khác nhiều hơn, đang khi chúng ta làm việc với họ.

E. Trúc Giang, spc






[1] Được trích dẫn bởi Alan Watts

Thứ Ba, ngày 23 tháng 9 năm 2014

NGHI KỴ

Không biết từ bao giờ và bằng cách nào mà sự nghi kỵ xâm nhập con người ? Nó kết dính trong con người như thể yếu tố không được giải trừ nơi hữu thể con người. Quả thế, có người như sinh ra cho sự nghi kỵ.

Kinh Thánh nói nhiều về sự nghi kỵ con người và hệ lụy của nó. Nhiều người hẳn biết đến câu chuyện về con rắn trong sách Sáng Thế. Ngay sau công trình sáng tạo của Đấng Tạo Hóa, rắn xuất hiện như con vật huyền bí đi vào đời sống con người. Nó bắt đầu công việc mờ ám là gieo vào lòng con người sự nghi kỵ với Đấng Tạo Hóa nhằm tách con người ra khỏi nguồn của sự sống (x. St 3). Tiếp theo sau câu chuyện này là trình thuật về sự nghi kỵ của người anh đối với người em trong câu chuyện Ca-in và A-ben gây ra cái chết ai oán đầu tiên trong Kinh Thánh (x. St 4). Kinh Thánh còn tiếp tục kể nhiều câu chuyện khác như Vua Sa-un đối với Đa-vít - kẻ trung thần (x. 1Sam 18-24). 

Trong văn chương – từ văn chương Tây phương cho tới Đông phương, chúng ta còn đọc thấy đầy dẫy câu chuyện về sự nghi kỵ. Chuyện Tấm Cám là một trong những câu chuyện văn chương Việt Nam điển hình, dù nó chỉ là câu chuyện cổ tích và huyền thoại. Phải chăng kinh nghiệm về đời sống con người là kinh nghiệm về sự nghi kỵ ?

Không chỉ trong văn chương, nơi đời sống thực tiễn chúng ta trải qua cuộc chiến về sự nghi kỵ mà con người “vừa là tác nhân và là nạn nhân”. Người ta dần thiết lập cho nhau ranh giới giữa bạn và thù, giữa lợi ích và thất lợi, giữa quyền lực và bị quyền, giữa trên và dưới, giữa truyền thống và ngoại lai, giữa đa số và thiểu số…. Trong tất cả cặp đối kháng đó sự nghi kỵ bào mòn máu thịt con người làm cho nó trở nên điên cuồng, hung hăng, man trá, thô lỗ giữa con người với nhau.

Dù thế nào thì nghi kỵ không thể là con đường xây dựng cuộc sống con người đích thực. Nó chỉ có thể là sự hủy diệt, đặc biệt khi nó được hệ thống hóa. Ai sinh ra nó như phương tiện để tồn tại sẽ không thể đạt tới cứu cánh hạnh phúc trường tồn ; ai sống trong nó sẽ khó thoát khỏi vòng vây của sự bất an. Chúng ta biết rằng tương lai của thế giới và cuộc sống của chúng ta chỉ được đặt nền móng trên những gì là chân thật. Sự chân thật xây dựng lòng tin và lòng tin giải thoát con người.

Phá bỏ bức tường nghi kỵ để xây dựng thế giới dựa trên những gì chân thật và lòng tin là con đường dài mà chúng ta cần nhiều hy sinh, thiện chí và hướng thiện. Nó đòi hỏi tiến trình giáo dục lâu dài và sám hối cá nhân và cả cộng đoàn cách chân thành đến khi chúng ta có thể nói : “Tôi sinh ra không phải để cho sự hận thù” và sự nghi kỵ, nhưng là cho sự tin tưởng. Đây không chỉ là thái độ đạo đức mà còn là giá trị nhân văn.


Trần Văn Khuê

Thứ Hai, ngày 15 tháng 9 năm 2014

TỪ BỎ CHÍNH MÌNH

(Ảnh : Núi Tabor)

Thế giới hôm nay lôi cuốn con người chạy theo khoái lạc, lợi nhuận và chiếm hữu không ngừng. Sự từ bỏ quả là xa xôi và không tưởng. Bị ảnh hưởng bởi não trạng sống để hưởng thụ, người ta thường coi giá trị ở đời này như tiền bạc, danh lợi, địa vị là trên hết. Nhưng đối với ai còn chút tâm hồn lương thiện, và đã từng trải, đều nhận biết đâu là giá trị đích thực của đời người. Ngắn ngủi thay con đường hưởng thụ, chẳng đưa người ta tới đâu, mà cuối cùng chỉ thấy phiền não, lo âu và thất vọng. Càng hưởng thụ càng thấy mình trở nên trơ trọi, tầm thường, bạc nhược và rồi ngán ngẩm chính bản thân mình.

Sống là chấp nhận từ bỏ. Từ bỏ trở thành qui luật sống, phát sinh và triển nở. Thai nhi không thể nào ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Đứa bé chẳng bao giờ trưởng thành nếu nó sống mãi bằng sữa mẹ. Lớn lên, theo đuổi một lý tưởng cao đẹp lại càng phải từ bỏ. Từ bỏ là dấu chứng ta muốn được tự do phát triển, bằng cách tẩy trừ mầm móng độc hại đã ít nhiều thâm nhập vào đời sống mình. Có biết bao điều hèn kém và xấu xa đòi hỏi ta phải từ bỏ để làm đẹp tính cách của mình. Ngay cả điều tốt cũng phải được từ bỏ để chọn một điều tốt hơn. Có nhiều người không có can đảm từ bỏ nên suốt đời cứ bị giằng co và ray rứt.

Từ bỏ thường làm ta sợ hãi và luyến tiếc, cảm thấy mình bị mất mát và nhiều khi bị thương tổn. Sự cắt tỉa nào mà lại không gây đau đớn và xót xa ? Đó là điều nhất thiết phải có để cây đời sinh hoa kết trái. Khi một phiến đá thấy mình trở thành một tác phẩm nghệ thuật, lúc đó nó mới biết ca ngôi sự đau khổ mà người thợ điêu khắc đã đục đẽo nó qua bao ngày. Cũng vậy khi thấy mình trở nên con người thành toàn hơn về mọi phương diện, ta mới biết yêu chuộng sự từ bỏ mà Đấng tác tạo đã làm nên. Chính sự từ bỏ sẽ giải phóng con người khỏi những gì đang bị kìm hãm, những gì làm giảm bớt cơ hội thăng tiến, những gì làm tê liệt sự phát triển nhân tính, để mở ra cho con người chiều kích siêu việt, linh thánh.

Thiết nghĩ, ai tự cho mình là khôn ngoan để rồi từ chối không muốn tiến xa hơn nữa trên con đường từ bỏ là người khờ dại. Muốn dành phần riêng cho mình để khỏi mất hết, là một tính toán sai lầm. Phép Rửa đã cho chúng ta trở thành môn đệ Đức Kitô. Nhưng để là môn đệ đích thực của Ngài, chúng ta cứ phải từ bỏ hoài, từ bỏ mãi và từ bỏ hết cho đến suốt đời : “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi được” (Lc 14, 33).

R. Tagore đã cảm thấu được chân lý trên qua dụ ngôn người hành khất gặp Đức Vua :  Khi xe Vua ngừng, người hành khất thầm nhủ duyên may đã đến, tưởng rằng Vua sẽ thương ban vàng bạc, nào ngờ Vua lại chìa tay xin : “Có gì cho Ta không ?”. Người hành khất bối rối, lưỡng lự một hồi rồi móc ra từ trong bị một hạt lúa rất nhỏ bé dâng cho Vua. Khi chiều về, anh ta dốc túi ăn xin ra, thì lạ thay có một hạt lúa vàng cũng rất nhỏ bé. Nghẹn ngào anh ta khóc nức nở : “Phải chi tôi dâng hết cho Người”.

Với xác tín thâm sâu đó, Tagore mới dâng lời nguyện ước : “Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế gọi được Người là tất cả của tôi. Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi chốn, mọi nơi, đến với Người trong mọi thứ mọi điều, và dâng Người tình tôi lúc nào cũng được. Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế chẳng bao giờ tôi lẫn tránh được Người...”

Sự tiến bộ trong đời sống thiêng liêng chỉ phát khởi trên con đường từ bỏ. Từ bỏ điều tôi có, và cứ có thêm mỗi ngày. Điều hôm nay chưa đến, mai đã thấy có. Điều đã bỏ từ lâu, nay lại dính bén. Chính vì vậy, từ bỏ phải là thái độ nội tâm liên tục. Tình yêu không chỉ nửa vời hay chỉ trong lúc hứng khởi, nhưng là trọn vẹn và trung kiên cho đến cùng. Tháp đã bắt đầu xây, cuộc chiến đã khai mào (x. Lc 14, 28-33), không thể lừng khừng và thỏa hiệp. Không còn là lúc mà ngồi xuống để tính toán nữa. Cần đầu tư toàn lực để xây tháp ; cần tập trung toàn tâm để tiến quân. Cần từ bỏ mọi vướng víu và níu kéo để lên đường cho một sứ mạng, đồng thời cũng dám dùng chính mạng sống mình để làm chứng cho chân lý. Từ bỏ hoàn toàn là cách diễn tả một tình yêu tột bậc, để sống trọn tình và thuộc trọn về người mình yêu.

Từ bỏ là con đường và cách thế của Chúa để gặp gỡ và cứu độ con, xin biến sự từ bỏ trở thành con đường của con để gặp gỡ Chúa và thuộc trọn về Ngài.


E. Trúc Giang, spc