Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

CUỘC KHỔ NẠN CỦA CON THIÊN CHÚA

Giáo hội Công giáo bước vào Tuần thánh – tuần tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Đức Giêsu, với việc cử hành Lễ lá. Trong Thánh lễ này phụng vụ Lời Chúa làm nổi bật hai điểm chính yếu : lặp lại cử chỉ của người Do thái đón rước Đức Giêsu vào thành thánh Giêrusalem và cuộc khổ nạn của Đức Giêsu tiếp theo sau đó. Vào dịp lễ Vượt qua của người Do Thái, Đức Giêsu từ Galilê lên Giêrusalem, dân thành Giêrusalem và môn đệ hân hoan tung hô Ngài là “Đấng từ Thiên Chúa mà đến” : “Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường. Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên : Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa ! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời !” Lc 19, 36-38). Tuy nhiên, việc tiếp rước và lời tán dương này đã trở nên vô nghĩa. Bài đọc Phúc Âm về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, được cả bốn tác giả Phúc Âm ghi lại, phác họa cho chúng dung mạo Đức Giêsu : con người đau khổ và Thiên Chúa bị loại bỏ.

Trình thuật Phúc Âm trước hết cho chúng ta thấy tấn bi kịch vào đoạn cuối cuộc đời của Đấng thiên sai. Đức Giêsu trải qua thử thách tình yêu, tình bạn và tình thầy trò bị phản bội. Phúc Âm vừa nói về biến cố Đức Giêsu vào dịp lễ Vượt qua vừa mô phỏng thế giới pha trộn bởi sự gian dối, nơi đó Con Thiên Chúa cảm nhận và sống cho tới cùng thân phận con người. Giuđa chắc hẳn không phải là người tội lỗi nhất trên đời, nhưng cử chỉ Giuđa lại rất nổi bật : dùng cái hôn để giao nộp tình yêu. Chính Đức Giêsu thật sự ngỡi ngàng và ngậm ngùi hỏi y : “Giuđa, anh dùng cái hôn mà nộp Con người sao ?” (x. Lc 22, 47-48). Cái hôn tượng trưng cho tình yêu trở nên mờ ám và giả dối. Cái hôn như thế thật cay độc. Người ta hẳn có lý khi nói không cái đau nào lớn hơn nỗi đau khi tình yêu bị phản bội ? Cái hôn của Giuđa đã đưa Đức Giêsu đi cho hết đoạn đường tình yêu đến trần trụi nơi cái chết bị bỏ rơi đi vào cõi im lặng bao la giữa trời và đất.

Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu cũng là cuộc khổ nạn của Thiên Chúa bị loại bỏ. Thiên Chúa là ai, nếu không phải là Đấng mà con người kết án là đã tham dự vào quyền hành con người ? Trong tham vọng quyền bính con người không thể cho Thiên Chúa có chổ đứng nơi mình. Đóng đinh Ngài : “Đóng đinh ! Đóng đinh nó vào thập giá” (x. Lc 23, 21), là cách tốt nhất để con người được tự do theo cách nói của Nietzche. Hay đúng hơn, con người tự tạo “Thiên Chúa” của mình : "Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập." (x. Xh 32, 4). Quả thật, Kinh Thánh cho chúng ta thấy kinh nghiệm đầu tiên về tội lỗi của người Do thái – của con người, chính là thờ ngẫu tượng. Hơn nữa, ý muốn đóng đinh Con Thiên Chúa bằng mọi giá không phải để loại bỏ một hiểm họa đáng sợ, nhưng qua đó con người muốn thách thức quyền năng của Ngài. Thánh Máccô trình thuật chi tiết trong cuốn Phúc Âm của mình như sau  : “Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói : "Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi ! " Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Người như vậy, họ nói với nhau : "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Ông Kitô vua Ít-ra-en, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin." Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người.” (Mc 15, 29-32). Trong đoạn này, có lẽ các thượng tế và kinh sư lấy lại từ “Kitô” mà Đức Giêsu sử dụng để nói cách châm biếm. Tuy nhiên, Đấng Kitô hay Đấng Mêsia nói về Đấng được xức dầu và được sai đến mà Đức Giêsu đã được tung hô khi vào thành thánh Giêrusalem. Nhưng, Thiên Chúa bị loại bỏ nơi cuộc khổ nạn của Đức Giêsu !

Hằng năm Giáo hội cử hành Tuần Thánh, đặc biệt là Tam nhật Phục sinh, và sống lại cách sống động cuộc khổ nạn của Đức Giêsu - Con Thiên Chúa và sự phục sinh của Ngài. Chiêm ngắn Đức Giêsu khổ nạn là chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu đó được biểu lộ trong sự điên dại như lời của thánh Phaolô. Cuộc khổ nạn cũng là hình bóng thế giới chúng ta, nơi đó Thiên Chúa đau khổ nơi hình ảnh con người và con ngươi như hình ảnh Thiên Chúa bị loại bỏ.

Trần Văn Khuê


Thứ Ba, ngày 08 tháng 4 năm 2014

TÌNH YÊU VÀ HẬN THÙ : CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI

Trong kho tàng triết học và huyền thoại Hy Lạp có vở bi hài kịch mang tên Antigónê (ντιγόνη, khoảng thế kỷ IV, tr. CN), Vốn là hai anh em nhà Œdipe δίπους), Eteoklếs (τεοκλς) và Poluneíkês (Πολυνείκης) đã chết cách bi thảm trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Dù là hai anh em cùng chung bụng mẹ sinh ra, nhưng mỗi người lại ở mỗi tuyến chiến khác nhau. Eteoklếs chiến đấu cho Kréôn (Κρέων) – vua thành Thíva (Θήβα) , còn người em thì ngược lại. Poluneíkês bị Kréôn kết án là thành phần phản loạn. Nhà vua ra sắc chỉ cấm cử hành nghi thức an táng thông thường cho Poluneíkês. Lệnh được thực hiện và thi thể của Poluneíkês nằm đó không được thương khóc, không được chôn cất, làm mồi cho chim đói. Thế nhưng, bất chấp lệnh cấm, Antigónê đã mạo hiểm sự sống mình khi trải một lớp cát lên thi thể của anh mình làm dấu chỉ của sự an táng. Cử chỉ can đảm và gây cảm xúc này kèm theo câu nói nổi tiếng của Antigónê với Kréôn: “Tôi sinh ra không phải để cho sự hận thù, nhưng cho tình yêu ”. Và câu nói đáp trả của Kréôn cũng đọng lại nơi tâm hồn khán giả cảm xúc rùng rợn : « Nếu bản chất của ngươi là sinh ra để yêu, thì hãy về nơi kể chết và yêu chúng !» Phải chăng, đối với Kréôn, thế giới tình yêu là thế giới của kẻ chết ?

Không chỉ có nơi truyền thống văn chương và triết học Hy Lạp cổ, đối với ai thừa hưởng và hiểu biết truyền thống Kinh Thánh đều nhận ra bi kịch giữa tình yêu và hận thù được diễn tả ngay từ trang đầu của cuốn Kinh Thánh. Sau khi được trao ban Evà – quà tặng tuyệt vời nhất của Đấng tạo hóa (vì trong số tạo vật được Thiên Chúa tạo nên “con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng” (x. St 2, 20), ngoại trừ Evà), Ađam thốt lên trong vui sướng : “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23). Thế nhưng, con rắn xuất hiện và bắt đầu gieo vào tâm tưởng con người ý tưởng thù địch với Đấng tạo hóa cách tinh ranh : “Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở nên như những vị thần biết điều điều thiện điều ác” (x. St 3, 4-5). Con người nghĩ thầm điều con rắn nói có lý. Chúng ta biết đoạn kết của câu chuyện này như thế nào cũng như bi kịch tình yêu và hận thù khác còn kéo dài trong lịch sử Kinh Thánh giữa con người và Đấng tạo hóa và giữa con người với nhau.

Câu chuyện văn chương không phải vô cớ, nhưng nó chuyển tải cho chúng ta một phần kinh nghiệm hiện sinh con người, đặc biệt kinh nghiệm về tình yêu và hận thù. Nơi đó con người sống theo khuynh hướng bản năng : tôi yêu người yêu tôi và tôi ghét người ghét tôi ; tôi yêu cái gì thuộc về tôi và tôi ghét cái gì không thuộc về tôi. Trong Phúc Âm, khi Chúa Giêsu nói với môn đệ : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù […]. Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ?” (Mt 5, 43 ; 46-47), đó không phải vì Ngài phủ nhận tình yêu của người thu thuế hay người ngoại giáo, nhưng để nói về khuynh hướng tình yêu và hận thù nơi con người. Mặt khác, chúng ta nhận thấy ranh giới giữa tình yêu và hận thù thật mong manh. Chúng có thể chuyển đổi cho nhau cách dễ dàng theo cảm xúc.

Câu hỏi của Chúa Giêsu trên đây hướng môn đệ tới đời sống hoàn thiện hơn mà con người từ khởi thủy luôn khắc khoải tìm kiếm : yêu với tình yêu siêu nhiên (vượt lên trên khuynh hướng tự nhiên). Tình yêu này chỉ ở nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa đến để hòa giải tình yêu và hận thù. Bởi lẽ, bất cứ sự hận thù nào cũng làm phát sinh hận thù mới. Kinh nghiệm lịch sử về phong trào quốc tế cộng sản cũng như nhiều chế độ toàn trị khác cho chúng ta hiểu điều đó. Trong lúc chủ trương thế giới đại đồng theo lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản đã đào sâu thêm sự hận thù qua việc đấu tranh giai cấp. Thiên Chúa không hận con người vì sự bất phục tùng, cũng như không thiên vị về nguồn gốc của họ. Thánh Phaolô giải bày cho tín hữu thành Êphêsô thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, đang sống trong tình yêu và hận thù : “Thật vậy, chính Người [Đức Kitô] là bình an của chúng ta : Người đã liên kết đôi bên, dân Do thái và dân ngoại, thành một ; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Eph 2, 14). Thập giá Đức Kitô là dấu chỉ của sự giao hòa giữa trời và đất, giữa tình yêu và hận thù : “Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hoà giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất ; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. Người đã đến loan Tin Mừng bình an : bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha” (Eph 2, 16-18). Trên thập giá Đức Giêsu không miệt thị lại kẻ miệt thị mình. Hơn nữa, trong thinh lặng của tình yêu Ngài xin Thiên Chúa Cha ban ơn tha thứ cho họ.

Không có tình yêu chiến thắng hận thù, cũng như không có hận thù được khuất phục bởi tình yêu nếu không có sự hòa giải. Cuộc sống con người trong mối tương quan con người với nhau hay trong mối tương quan với Thiên Chúa là hành trình hòa giải luôn mãi giữa tình yêu và hận thù. Phải chăng Antigónê đã cảm nhận được không có sự sống trong hận thù, nhưng chỉ có cái chết ? “Tôi sinh ra không phải để cho sự hận thù, nhưng cho tình yêu ” là xác tín của Antigónê về con đường hòa giải đưa về thế giới tình yêu từ kinh nghiệm bi thương. Riêng người Kitô hữu tìm thấy nơi Thiên Chúa, qua thập giá Đức Kitô, con đường đưa tới sự sống mà nơi đó cánh cửa ngục tù của hận thù đã thực sự được mở toang để cho tình yêu ngự trị.

Trần Văn Khuê






Thứ Sáu, ngày 28 tháng 3 năm 2014

XIN HÃY NÓI LỜI YÊU THƯƠNG

Có khi nào bạn nghĩ rằng một ngày nào đó, người thân thương sẽ không còn sống bên cạnh bạn nữa ? Bạn và tôi, chúng ta không thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai đối với người thân của mình. Chúng ta cũng không biết điều gì sẽ xảy ra cho chính bản thân dù trong một giờ sắp tới.

Chị bạn tôi mới về thăm gia đình và gặp lại người mẹ yêu quý của chị. Chị muốn tâm sự với mẹ về niềm vui, nỗi buồn trong suốt thời gian xa cách gia đình. Cuối cùng vì một lý do nào đó chị không thể nói được. Một tuần sau, chị nhận được tin mẹ chị qua đời cách đột ngột. Chị dường như không còn tin vào tai mình vừa nghe, bởi mẹ chị vẫn còn trẻ và không có biểu hiện nào của bệnh tật cả. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Người mẹ ấy không còn sống trên cõi đời này nữa. Có rất nhiều, rất nhiều trường hợp như thế. Người mà ta mới thấy đó, ngày nào ở bên ta đó nhưng nay không còn nữa.

Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng người thân sẽ sống bên chúng ta mãi. Chúng ta quên rằng chỉ qua một đêm thôi, ta sẽ có thể không còn gặp người ấy nữa. Ta muốn nói lời xin lỗi, thể hiện lòng biết ơn hay bày tỏ tình thương đối với họ, nhưng đã trễ rồi. Họ không còn có thể lắng nghe được nữa dù chỉ một lời mà thôi.

Nhìn lại chính mình, tôi cảm thấy rất hạnh phúc với những gì tôi lãnh nhận từ tình thương, sự tha thứ và lòng khoan dung của người sống bên tôi. Thật sự mà nói tôi chưa thực tập tốt hay đúng hơn tôi chưa sống hoàn hảo. Nhưng tự đáy lòng, tôi luôn nói với chính mình : “ Hãy yêu thương, tha thứ và khoan dung khi còn có thể, bởi tôi không biết được tương lai đang tới. Có thể chỉ một phút nữa thôi thì điều này sẽ trở thành không thể”.

Tôi nghĩ rằng cuộc sống ở trong tất cả mọi sự, từ điều to lớn cho tới điều đơn giản, thậm chí là ở điều mà chúng ta không hề quan tâm đến. Cuộc sống luôn “nói chuyện” với chúng ta thông qua điều giản dị và không ngờ đến nhất. Đừng bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào trong cuộc sống của bạn, hãy quý trọng nó !

E. Trúc Giang, spc




Thứ Ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

THIÊN CHÚA ẨN MÌNH

Qua chiều dài lịch sử biết bao sự kiện và biến cố để lại trong ký ức khó quên của nhân loại. Nhiều chấm đen lịch sử khó bị tẩy rửa và viết thương bi ai không thể được chữa lành. Chúng ta mang nó nơi mình như bài học kinh nghiệm xương máu, cho dù vẫn chưa bao giờ biết cách làm tốt hơn cho ngày mai tươi đẹp, con người sống trong hòa bình và mọi người được vui hưởng niềm vui trọn vẹn sống làm người.

Cũng không chỉ với thảm kịch mang mang tầm vóc thế giới, chúng ta nhiều lúc choáng váng vì cái bị lãng quên. Cái bị lãng quên tầm thường và thường ngày. Nó tầm thường đến mức không được mấy ai quan tâm. Nó tầm thường vì không đủ sức gây tiếng vang và bị tan biến trong mối bận tâm khác của con người. Hình ảnh em bé bơ vơ không người nương tựa, cụ già neo đơn mắt lệ nhòa nơi xa vắng, dân lành lam lũ không tìm đủ ngày hai bữa cơm no nơi phố thị xa hoa giàu có…, tất cả chỉ tầm thường.

Chúng ta phẫn nộ cho cái thói tham lam giàu có và quyền lực đến mức áp bước người khác. Vang vọng đâu đó câu hỏi của con người : “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày, khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi : này Thiên Chúa ngươi đâu ?” (Thánh Vịnh 45, 4).

Thiên Chúa ẩn mình, Thiên Chúa vẫn thinh lặng như lời của ngôn sứ I-sa-i-a : “Lạy Thiên Chúa của Ít-ra-en, lạy Đấng Cứu Độ, Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45, 15).  Kinh nghiệm về Thiên Chúa vượt khỏi tầm hiểu biết con người ! Quả thật, ngoại trừ trường hợp của Gia-cóp diện đối diện với Thiên Chúa : “Tôi đã thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, mà tôi đã được tha mạng” (St 32, 31), truyền thống Kinh Thánh Cựu Ước cho ta biết con người không nhìn thấy Thiên Chúa diện đối diện bao giờ, nhưng họa may chỉ nhìn thấy Ngài từ phía sau. Sách Xuất hành tường thuật về cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và Mô-sê trên núi như sau : “Ông Mô-sê nói : xin Ngài thương cho con được nhìn thấy vinh quang của Ngài”. […]. Người phán : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Đức Chúa còn phán : “Đây là chỗ gần Ta ; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy”” (Xh 33, 18-23). Tuy nhiên, I-sa-i-a không chỉ nói về Thiên Chúa ẩn mình qua việc không biểu lộ cho con người thấy “tôn nhan” Ngài, hay như thể Ngài ở chốn hoang vu : “Khi Ta phán, Ta đâu có ẩn mình ở nơi nào trong vùng đất tối tăm. Ta không bảo giống nòi Gia-cóp : Hãy tìm Ta trong cảnh hoang vu” (Is 45, 19), nhưng chính là Ngài không ở trong bất cứ hình tượng nào mà con người phác họa nên. Đó là “kẻ làm ra ngẫu tượng” (45,16), “người kiệu tượng gỗ, khấn vái thứ thần chẳng cứu được ai” (45, 20). Thiên Chúa mà con người tưởng vọng có thể là Thiên Chúa của sở thích, Thiên Chúa của nhu cầu, Thiên Chúa của cảm tính, Thiên Chúa của quyền lực, Thiên Chúa của tham vọng, Thiên Chúa của sự toan tính con người. Nói cho cùng, trong ý tưởng tượng con người Thiên Chúa hoàn toàn vắng lặng.

Thiên Chúa ẩn mình ngay trong chính công trình tạo dựng của Ngài khi đặt con người vào trung tâm vũ trụ và trao quyền cho con người trông coi nó với sự tự do. Ngài ẩn mình trong sự thinh lặng của Đức Giê-su. Sự ẩn mình tột độ của Thiên Chúa nơi cái chết bi thảm của Đức Giê-su trên đồi Gôn-gô-ta vào ngày thứ sáu trước lễ Vượt qua của người Do-thái. Nơi đó một lần nữa con người chất vấn về Ngài : “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa” (Lc 23, 39). Nhưng, vinh quang Thiên Chúa được biểu lộ qua sự ẩn mình của Ngài.

Trần Văn Khuê


Thứ Tư, ngày 05 tháng 3 năm 2014

ĐỨC GIÊSU VÀ SỰ THINH LẶNG

Người ta thường nói “thinh lặng là vàng” hay “thinh lặng là nghệ thuật của đối thoại”. Thật vậy, thinh lặng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Đối với Đức Giêsu, sự thinh lặng còn mang nhiều ý nghĩa cao siêu khác mà Thánh Kinh đã ghi lại cho chúng ta.

Thông thường, con người sau giờ lao động vất vả, náo nhiệt hay tìm kiếm giây phút thanh vắng để nghỉ ngơi cho lại sức, nhằm lấy lại thế quân bình cho cơ thể và tâm trí. Trong khi nghỉ ngơi người ta không thích sự ồn ào, náo động của người khác.

Đức Giêsu nhà tâm lý đại tài. Ngài rất am hiểu về ý nghĩa của sự thinh lặng. Khi các môn đệ đã mệt mỏi sau cuộc hành trình truyền bá Tin Mừng và hành nghề trừ quỉ chữa bệnh, Ngài bảo các ông : “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31).

Mặt khác, Đức Giêsu nổi tiếng với tài năng như thuyết giáo hay, chữa bệnh giỏi, trừ quỉ tài phép, đặc biệt là lòng nhân ái đã khiến cho tiếng tăm lan rộng và hàng ngàn người kéo đến với Ngài. Thế nhưng, không như người biệt phái kiêu căng, tự mãn, trái lại Ngài lánh mặt đi ra nơi thanh vắng để cầu nguyện cùng Chúa Cha : “Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng ; đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. Nhưng Người lánh vào nơi hoang vắng để cầu nguyện” (Lc 5,15-16).

Đối với Đức Giêsu, sự thinh lặng cầu nguyện còn là phương thế để gặp gỡ và thưa chuyện với Chúa Cha trong mọi lúc bất kể thời gian và Người coi như là bổn phận: “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó”(Mc 1,35). Đồng thời, sau khi đã nuôi sống hàng ngàn người ăn, Người giải tán họ và lên núi cầu nguyện (x. Mt 14,23) để cảm tạ Chúa Cha về hồng ân mà Cha đã ban. Hồng ân đã giúp cho Ngài nuôi sống hàng ngàn người no thỏa.

Ngoài việc gặp gỡ Chúa Cha, sự thinh lặng của Đức Giêsu còn biểu lộ lòng khiêm nhường. Ở đời, người ta vốn thích được tiếng hơn được miếng, họ vốn thích người khác khen là giỏi, là tài ba... nhưng Đức Giêsu hoàn toàn khác. Ngài chữa bệnh rất giỏi không lấy tiền, nhưng lạ là Ngài đều cấm họ phải im tiếng hay không tiết lộ : “Coi chừng đừng nói với ai” (Mt 8,4; Mc 1,44; Lc 8,56). Chúa Giêsu luôn tự coi mình là tôi trung của Chúa Cha. Chính vì thế mà Ngài muốn dân chúng giữ thinh lặng để khỏi hiểu sai về vai trò của Ngài. Nhưng dù cho Ngài có cấm, họ vẫn không thể không cất lời ca ngợi Chúa. Sau cùng, hình ảnh Người tôi trung của Giavê Thiên Chúa bị hành hạ, chịu nguyền rủa nhưng vẫn im lặng tuyệt đối, biểu hiện rõ nét qua hình ảnh Đức Kitô khi đối diện với hội đồng và tổng trấn Philatô : “Người làm thinh chẳng hé môi” (Mc 15,5).

Đỉnh cao của thinh lặng là sự tha thứ. Lời cầu xin tha thiết này của Đức Giêsu là lời tha thứ bao la, vô bờ bến : “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Con Một Thiên Chúa uy linh tối cao lại để cho loài người thấp hèn tội lỗi hành hạ, đánh đập, chửi rủa. Ngài vui lòng cam chịu, không hề thốt ra một tiếng nào. Qua đó, ta thấy sự thinh lặng của Chúa Giêsu trên thập giá là đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa. Đằng sau sự thinh lặng đó, ơn cứu độ của Thiên Chúa tuôn chảy trên khắp mặt đất này.

Tóm lại, qua những ý tưởng trên phần nào làm nổi bật sự thinh lặng tuyệt vời của Chúa Giêsu. Thiết nghĩ, mỗi người chúng ta cũng nên coi thinh lặng như kim chỉ nam cho đời sống của mình. Chúng ta tìm kiếm sự thinh lặng không phải là cái gì bên ngoài, không có tiếng động, nhưng chính là từ nơi sâu thẳm của con tim, nơi hiện ra và thu hồi mọi ước vọng sâu xa nhất có thể giúp ta sống tỉnh lặng trong tương giao với Thiên Chúa.


E. Trúc Giang, SPC

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 2 năm 2014

THINH LẶNG

Ở Tây phương ngày càng nhiều người trong dịp nghỉ hay cuối tuần đến với đan viện[1] để tìm kiếm giây phút thinh lặng, không gian yên tĩnh, tâm hồn lắng đọng. Ngay cả khi nơi đó thật heo hút, khuất bóng sau triền núi ngoằn ngoèo, xa xăm nơi vùng thung lũng mênh mông và lác đác con người giữ nhịp cầu kinh mỗi ngày, nó vẫn lôi cuốn tâm hồn. Dĩ nhiên, ta không thể so sánh khách tới đây với đám đông trên bãi biển vào ngày đẹp trời mùa hạ hay dòng người hứng thú với đường đua trên dãy núi tuyết mùa đông.

Thinh lặng hình như không còn nơi phố xá thành thị vồn vã hôm nay. Người ta bị kích động bởi tiếng ồn ào của người, của vật, của ngày và của cả đêm. Đầu óc quay cuồng với vũ bão thông tin dần dập không ngớt. Ngay cả khi trao đổi với nhau người ta không biết và cũng không cần biết được lắng nghe thế nào. Người nói cứ nói, người phát ngôn cứ phát, người thuyết minh cứ thuyết, người giảng dạy cứ giảng… và người đón nhận thông tin ai mà biết được. Thinh lặng để lắng nghe hay biết được lắng nghe không mấy mảy may tồn tại.

Chúng ta quyên rằng thinh lặng làm phần với cuộc sống của ta. Nó là sự thư thái nơi thân xác, êm đềm trong tâm hồn. Đánh mất sự thinh lặng là đánh mất một phần con người và cuộc sống. Thinh lặng mang trái tim của con người rạo rực niềm vui.

Con người cần thinh lặng để lắng nghe : lắng nghe ta, lắng nghe người và lắng nghe vũ trụ đất trời. Con người không chỉ lắng nghe với đôi tai, nhưng còn với cả trái tim – trái tim hiểu biết, trái tim biết lắng nghe. Trong thinh lặng chúng ta nghe tiếng thì thầm của chính mình, tiếng vang vọng của con người và tiếng du dương của đất trời.

Con người cần thinh lặng để nói với mình, nói với người và nói với đất trời. Trong thinh lặng con người trở về với chính mình và đến với người. Thinh lặng là ngôn ngữ - thứ ngôn ngữ nội tâm giàu biểu cảm và sâu sắc. Người ta thường chỉ nghĩ trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ âm thanh mà quên đi ngôn ngữ của thinh lặng. Thinh lặng không là sự dửng dưng của người ích kỷ, thờ ơ của người vô tâm và vô can của người thiếu trách nhiệm. Nó là sự cảm thông của người tha thứ, hiệp thông của người thân cận và yêu thương của người bạn tri kỷ. Ngôn ngữ âm thanh cần ngôn ngữ thinh lặng để trở nên hoàn thiện.

Thinh lặng không mấy được biết và được hiểu, nhưng thinh lặng lại là con người hoạt động biết suy nghĩ, chiêm niệm biết năng động. Thinh lặng vì thế chính là kho tàng của đức khôn ngoan.

Trần Văn Khuê




[1] Tu viện kín nơi đó đan sĩ sống đời chiêm niệm trong lao động và cầu nguyện.

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2 năm 2014

CÁI NHÌN VỀ TỰ DO

Chúng ta không thể phủ nhận việc con người hôm nay chiếm hữu và hưởng thụ nhiều hơn. Nhưng hơn bao giờ hết, con người cảm thấy cô đơn, đau khổ, lạc lõng, thiếu vắng tình yêu, nên con người càng khao khát được tự do và hạnh phúc. Chúng ta thử dừng lại vài khoảnh khắc sau ngày làm việc vất vả để suy tư về điều đó. Nếu hạnh phúc con người được đo lường bằng mức độ chiếm hữu và hưởng thụ, lẽ ra con người ngày nay hạnh phúc hơn bất cứ ai vào thời điểm khác trong lịch sử chứ ? Nhưng tại sao con người vẫn thấy mình bất hạnh ?

Hãy nhìn vào thực tế hôm nay : xã hội dường như làm đảo lộn tất cả mọi trật tự luân lý do chủ thuyết sai lầm như thuyết duy vật, «sống hưởng thụ». Thật sai lầm, khi con người cho mình có quyền tự do hưởng thụ tất cả mọi sự và khai trừ Thượng Đế ra ngoài cuộc sống. Đại diện cho nền văn minh Tây Âu, triết gia Frederic Nietzsche tuyên bố : «Thượng Đế đã chết rồi». Con người coi mình làm chủ tự do tuyệt đối. Trong khi đó, Thiên Chúa là Đấng tự do tuyệt đối thì con người lại truất phế Ngài. Phong trào triết học hiện sinh mà ông tổ là Jean Paul Sartre, đã nhân danh tự do tuyệt đối của con người, khi nói : «Con người chỉ có tự do đích thực, khi con người nhảy lên làm Thiên Chúa, vì còn chấp nhận Thiên Chúa, con người sẽ mất hết tự do».

Chủ thuyết đó đã ăn sâu vào tâm trí con người, làm giảm đi tinh thần cũng như giá trị sự sống. Hơn nữa, với xã hội hôm nay, tự do hưởng thụ và tự do khoái lạc là điều thích hợp, biện minh cho sự từ chối và quên lãng Thiên Chúa. Để bù lại đó là xã hội đồi trụy, biết bao thứ tiêu khiển tìm cách khỏa lấp cơn khát của lương tâm là giá trị tinh thần được sống mà Thiên Chúa qua Đức Kitô đã ban cho : «Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga10,10).

Quả là thảm trạng cho thế giới tương lai, trong khi nhân loại đặt tin tưởng vào thế hệ mới, tương lai rực rỡ của giới trẻ. Họ đang làm gì và sống thế nào ? Trước mắt nhân loại đang nhìn thấy đa số thế hệ trẻ lao mình xuống vực thẳm trong sự đồi bại. Bởi họ trực tiếp đón nhận chủ thuyết lệch lạc như miếng mồi ngon hợp khẩu vị. Do đó, xã hội bị chìm sâu trong trụy lạc và tội ác như : hút xách, ma túy, mại dâm, tham nhũng, cướp giật, bóc lột... tạo nên mối lưu tâm trăn trở cho các nhà lãnh đạo cũng như cho toàn nhân loại.

Một cách nào đó, con người đã đi lệch con đừng của Thiên Chúa, đánh mất sự quân bình giữa hai thái cực : một bên là tâm linh và bên kia là thể xác. Chính vì sự mất quân bình ấy, con người cảm thấy đau khổ, mất tự do và không còn có đời sống thoải mái (trong trật tự của Thiên Chúa). Con người bị giam hãm, chịu cảnh tù đày giữa thế giới bao la rộng lớn, giữa khung trời cao vút.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng khuyến cáo nhân loại hãy đứng dậy, hãy vùng lên thoát khỏi sự kiềm tỏa của nỗi kinh hoàng sợ sệt, để trở về nguồn tức là trở về với Đấng đã dựng nên muôn vật. Đó là chân lý mà các nhà hiền triết như Lão Trang, Lão Tử đã hội ngộ trùng phùng với giáo huấn của các Giáo phụ trong Hội Thánh. Còn đối với cá nhân mỗi người, chúng ta đã làm và đang làm gì để giúp ích cho Giáo Hội cũng như xã hội được đứng lên lập lại sự thăng bằng giữa hai lĩnh vực : Tinh Thần và Vật Chất ? Đó là ý thức được sự giới hạn và bất toàn của mình : sai sót, bất cẩn…, để sửa lỗi, xin ơn tha thứ và hoán cải.

E. Trúc Giang, SPC