Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2014

TÌNH THƯƠNG CHÚA ĐỜI ĐỜI CON CA TỤNG


Ảnh : Hồ Silôê

Cái tĩnh mịch cho vũ trụ chìm sâu trong giấc ngủ. Mọi vật như im lìm trong thầm lặng. Trái đất mãi xoay vần, gió vẫn thổi, mây vẫn bay, cây cối hút nước và hít thở bầu không khí trong lành... Con người đón chào ánh bình minh của ngày mới, tia sáng bị khúc xạ bởi các tầng mây hòa cùng làn gió nhẹ, trông thật đẹp mắt và thi vị.

Từ sớm mai con hát lên lời ca tụng : “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118,1). Vì yêu thương Chúa đã dựng nên vũ trụ bao la với muôn vàn tinh tú, trăng sao, thú vật, cá biển, chim trời... Tất cả như đang thầm lặng trước tôn nhan Chúa. Chỉ có thầm lặng mới diễn tả được quyền năng và vinh quang của Ngài. “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 18A,1).

Sự xuất hiện của con người là chóp đỉnh của tạo dựng mà Thiên Chúa đã thực hiện, là kiệt tác hoàn hảo hơn bất cứ tác phẩm nào. Con người tuy nhỏ bé so với vũ trụ bao la, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt.

Ngược dòng thời gian về quá khứ, ghé thăm vườn địa đàng năm xưa : miền đất bao la tràn đầy sữa và mật, cây cối xanh tươi, hoa ngọt trái bùi bên dòng suối nước. Tiếng kêu của côn trùng hòa với tiếng hót của đàn chim trong gió nhè nhẹ của buổi chiều mát dịu ; tất cả đang hòa thành bản nhạc du dương, vẽ nên bức tranh thật sống động. Trong cái thanh bình thầm lặng dưới tia nắng hồng của hoàng hôn, Thiên Chúa Giavê dạo chơi với con người, như người Cha dìu đứa con bé bỏng của mình bước đi những bước chập chững đầu đời. Tất cả để nói lên tình thương của Đấng Tạo Hóa dành cho con người. Mỗi vết chân là một dấu ấn tình yêu không bao giờ phai. Nhưng, con người đã đánh mất giây phút hạnh phúc ấy, đã cắt đứt sợi dây yêu thương mà Thiên Chúa đã trao ban. Giờ đây con người phải sống trong bất hạnh đau khổ. Bởi vì con người đã bất phục tùng và chối bỏ tình yêu của Thiên Chúa. Dầu vậy, tình yêu Ngài vẫn cứ mãi tuôn tràn tựa biển hồ lai láng. Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu  Độ : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đạp dập đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Và “Thời gian đã tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5). Thiên Chúa Cha đã thông ban cho chúng ta Con Một yêu dấu của Ngài, để chúng ta sống bình an, hạnh phúc. Chúa Cha trao ban cho chúng ta cách nhưng không, Ngài không đòi hỏi điều gì ngoại trừ kêu gọi chúng ta cũng phải biết cho đi nhưng không (x. Mt 10,8). Lời mời gọi đó không phải là Thiên Chúa Cha đang trông mong chúng ta đến với anh em mình, và chờ đợi chúng ta trở về hay sao?

Hãy trở về ! Hãy trở về với Cha nhân từ ! Hãy trở về ... để trong “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8), chúng ta được làm con Thiên Chúa Cha và đồng thừa tự với Đức Giêsu Kitô.

Trong Tông Thư gởi đầu Thiên Niên Kỷ Mới, số 5, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết : “Mầu Nhiệm Nhập thể của Thiên Chúa, đạt tới chóp đỉnh trong Mầu Nhiệm Phục Sinh và hồng ân của Thần Khí, là con tim rung động của thời gian, như hạt giống dự định để trở nên một cây lớn” (x. Mc 30-32).

Đúng vậy, mầu nhiệm đau khổ và Phục sinh của Ngôi Lời, là ngôn ngữ sống động của tình yêu mà sự hiểu biết của con người không thể thấu đạt : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Hạt giống của sự sống được gieo vào lòng đất, đã mục nát đi rồi nảy mầm vươn lên. Sự sống đã chiến thắng tử thần qua cuộc từ nạn và phục sinh của Đức Kitô.

Cây Sự Sống với cành lá xanh tươi đã mọc lên. Ở đây chúng ta được ví như cành cây gắn liền với thân cây là Đức Kitô để đón nhận sự sống và sinh hoa trái. Đó là hoa thơm của thánh thiện và bác ái.

Thầm lặng và chiêm ngắm để thấy tình thương Chúa vẫn ấp ủ chúng ta như mẹ hiền ấp ủ con thơ trong lòng. Tâm hồn chúng ta phấn khởi vui mừng hát lên bài ca chúc tụng “Tình thương Chúa đời đời con ca tụng” (Tv 89,2).

E. Trúc Giang, spc


Thứ Bảy, ngày 12 tháng 7 năm 2014

CON ĐƯỜNG NGUY HIỂM


Trong lời huấn dụ các môn đệ về chọn lựa đưa tới sự từ bỏ, Đức Giêsu nói với họ bằng hình ảnh gợi nghĩa : “Ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ hoàn thành không ? […] Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ?” (x. Lc 14, 28-33). Lời dạy khôn ngoan này của Đức Giêsu cũng là kinh nghiệm con người qua mọi thời. Theo lẽ tự nhiên, ai không tính toán đường đi nước bước ? Ai không tính thiệt thua ? Và, ai lại không suy tưởng vận mệnh thời cơ ? Con người lý trí cũng là con người khôn ngoan biết “tính toán”. Sự lường trước, như Đức Giêsu nói, giúp người ta đạt tới “thành công”.

Tuy nhiên, có điều đặc biệt nơi hành động của Đức Giêsu lại được các tác giả Phúc Âm ghi nhận : Con người hình như không biết tính toán và chọn lựa con đường nguy hiểm. Việc nhập thể của Thiên Chúa đã là cuộc mạo hiểm của Ngài nơi đời sống con người. Đó không phải vì sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, điều thiện và điều ác, nhưng là cuộc phiêu lưu của Thiên Chúa với con người tự do. Đấng là Chủ không hề nắm chắc sự quy phục của con người thụ tạo. Từ quyền bính và toàn năng Thiên Chúa tự đặt mình nơi thái độ của người mời gọi, đồng hành và chờ đợi. Giấc mơ tạo dựng này được nhập thể nơi đường đi nước bước của Đức Giêsu nhập thế.

Cả ba tác giả Phúc Âm nhất lãm ghi lại hành trình của Đức Giêsu qua miền đất của người Ga-đa-ra và Ghê-ra-xa, chữa lành cho người bị quỷ ám (x. Mt 8, 28-31 ; Mc 5, 1-20 ; Lc 8, 26-39). Thánh Mát-thêu đặc biệt thêm chi tiết khung cảnh và tính chất nguy hiểm trong trình thuật của mình : “người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả”, “rất dữ tợn” và “không ai dám qua lại lối ấy”. Nếu đó là con đường nguy hiểm cả về địa hình và con nguời, tại sao Đức Giêsu lại muốn đi vào miền đất ấy ? Quả thật, đây mới chỉ là một ví dụ trong hàng loạt quyết định của Đức Giêsu chọn đi con đường nguy hiểm. Việc để cho “người thu thuế” tiếp rước mình về nhà và dùng bữa với “người tội lỗi” (x. Mt 9, 9-13) cũng như để cho “người phụ nữ tội lỗi” lau chân và xức dầu thơm lên mình (x. Lc 7, 36-50) quả là quyết định vượt lên trên mọi định kiến tôn giáo và xã hội khắt khe và chỉ có Đức Giêsu mới có thể đi con đường nguy hiểm này. Người Pharisiêu không bỏ qua cơ hội để chất vấn các môn đệ về Đức Giêsu : “Tại sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy ?”, và phê phán trong thâm tâm : “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào : một người tội lỗi”. Cuối cùng, Đức Giêsu đi hết chặng đường nguy hiểm lên Giêrusalem. Đó là đoạn trường của cuộc vượt qua mà môn để ngăn cản Người : “Người nói với các môn đệ : "Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê ! " Các môn đệ nói : "Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ? " (Ga 11, 7-8).

Phải chăng từ hành động gây ngạc nhiên này của Thiên Chúa mà thánh Phaolô rao giảng cho dân thành Côrintô : “Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao ? Thật vậy, thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. […]. Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em” (x. 1Cr 1, 17-31). Để đến với con người Thiên Chúa đi con đường của con người. Xuyên suốt lịch sử Kinh Thánh chúng ta nhận thấy hình ảnh Thiên Chúa không ngừng ngỏ lời với con người và luôn đi bước trước để đưa con người về nguồn hạnh phúc. Sau này thánh Âugustinô diễn tả về Thiên Chúa nhập thể nơi đời sống con người bằng hình ảnh : để cảm nhận con người Thiên Chúa hít thở bằng hơi thở con người và yêu thương con người bằng trái tim nhân loại.

Con đường hôm qua cũng như hôm nay, nơi đó có vinh quang và gian khổ đắng cay, có niềm vui và buồn sầu thất vọng, có phấn khởi và nhọc nhằn mệt mỏi, có ánh sáng và bóng tối, có phẳng lặng và giông tố, có chặng đường bằng phẳng và gập ghềnh. Con đường nguy hiểm. Tuy nhiên, trong mọi sự Thiên Chúa định liệu cho chúng ta bằng tất cả sự khôn ngoan và tình yêu.


Trần Văn Khuê

Thứ Năm, ngày 03 tháng 7 năm 2014

TỪ NƠI TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI

Triết gia Epitète khuyên con người triệt để xua đuổi tư tưởng xấu xa ra khỏi đầu óc,vì nó gây ra những căn bệnh nghiêm trọng tinh thần. Nó còn là nguyên do của bệnh tật thể lý. Ông  nói : “Những bệnh này thường do người đau không biết làm cho đời sống của mình thích nghi với vấn đề thực tế”.

Có nhiều thứ bệnh ngặt nghèo không do vi khuẩn gây nên, nhưng do tư tưởng tiêu cực hoặc hành động đen tối tạo nên, làm thành cảm xúc bất lợi như lo lắng, sợ sệt, buồn rầu, oán ghét... Đó cũng là tư tưởng đen tối không những làm bại hoại đời sống tinh thần mà còn hủy hoại đời sống cơ thể.

Văn sĩ Montaigne cũng từng cho rằng : “Loài người đau khổ do hoàn cảnh thì ít mà do ý niệm về hoàn cảnh của mình thì nhiều”. Ý niệm thay đổi thì tâm trạng thay đổi. Hãy bắt đầu và xếp đặt lại tư tưởng của mình với tất cả niềm tin chiến thắng. Chiến thắng được chính mình thì sẽ chiến thắng được mọi sự.

Có những trắc trở và khó khăn dường như vượt sức ta ; có hoàn cảnh éo le khiến ta cảm thấy bất lực không thể làm gì hơn ; cũng có oan trái và cay nghiệt khiến ta rúng động cả tâm can. Chúa thấy tất cả điều đó. Ngài muốn gột rửa tinh trong quả tim và khối óc của ta. Ngài mời gọi ta vận dụng toàn thể nội lực của mình để vượt qua rào cản vô hình đang vây bủa tư tưởng.

Dù có khi chúng ta không khắc phục được tình trạng và hoàn cảnh theo ý muốn, nhưng nghị lực muốn vượt qua đem lại cho ta sự thanh thản biết đón nhận và kiên định hào hùng trong cuộc sống. Giá trị cao cả của đời sống tinh thần là ở chỗ đó, ở ngay trong tình trạng mà Chúa muốn như vậy. Chính thánh Phaolô đã ba lần xin Chúa cho ông thoát khỏi nỗi khổ đang dằn vặt chính mình. Nhưng Chúa quả quyết với ông : “Ơn Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr12, 8).

Thánh Phaolô nghĩ rằng Chúa muốn như vậy để ông khỏi tự cao, tự đại. Mầu nhiệm tình yêu Chúa thật lạ lùng. Hiểu được như thế nên Phaolô càng thêm xác tín : “Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2Cr12,9). Kinh nghiệm sống với Chúa cho Phaolô biết cách suy nghĩ tích cực, dù không thoát được sự nhức nhối và không mạnh mẽ như mình mong muốn, nhưng ông “cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối... Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2Cr12,10). Ý hướng và cách thức tư duy của thánh Phaolô thật tuyệt vời, nó giúp ta biết cách vận dụng tư tưởng để xây dựng cuộc đời mình một cách tích cực nhất.

Tư tưởng có khả năng thay đổi mọi sự, vì mọi sự bắt đầu bằng tư tưởng. Thay đổi như thế nào thì tùy định hướng, nội dung và tính chất của tư tưởng. Tư tưởng mang lại hạnh phúc nhưng cũng mang lại bất hạnh. Tư tưởng là sức mạnh sáng tạo và biến đổi, nhưng cũng là sức mạnh phá hoại và hủy diệt. Bởi vậy mỗi tư tưởng là mỗi sự cân nhắc và chọn lựa. Mỗi tư tưởng phải là mỗi sự khôn ngoan và “minh trí”.

Nhìn vũ trụ vạn vật, ta nhận ra Thiên Chúa là nhà tư tưởng lỗi lạc vô song. Ngài sắp xếp, an bài mọi sự trong trình tự chuyển biến đi lên, để mọi loài, mọi vật theo cách thế của mình mà phát sinh và triển nở. Trên đường tiến hóa về Tinh Thần tột đỉnh là Đức Kitô, Thiên Chúa vẫn đang không ngừng sáng tạo trong sức sáng tạo tư tưởng con người. Ngài đang qui họp mọi tư tưởng tích cực nhất, sinh động nhất, cao đẹp nhất, để hình thành trời mới đất mới cho nhân loại mới. Trong đó, có bản thân ta đang phấn đấu từng giờ để vượt lên chính mình trong tư tưởng và theo đường nẻo của Chúa, hầu hoàn thành kế hoạch rất riêng cho cuộc đời ta, nhưng cũng rất chung cho mọi người.

Ước chi mọi tư tưởng chúng ta làm thành dòng suối tuôn chảy liên tục bắt nguồn từ nơi Chúa, để chúng ta được ở trong Chúa trong mọi tư tưởng của chúng ta.


E. Trúc Giang, spc

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 6 năm 2014

DỊ BIỆT

Bộ phim Mỹ : “Divergent” (tạm dịch : Dị biệt) của đạo diễn Neil Burger, với các diễn viên trẻ đang được công chúng yêu mến : Shailene Woodley, Theo James và Kate Winslet, vừa được trình chiếu tại Pháp vào tháng 04 năm 2014. Cốt truyện của bộ phim dựa theo tác phẩm văn chương cùng tên thuộc thể loại khoa học giả tưởng của nhà văn Verinoca Roth.

Câu chuyện kể về cô gái Beatrice 16 tuổi, lấy tên sau đó là Tris, vào thời hậu cánh chung[1] mà trật tự xã hội được thiết lập lại tại tiểu bang Chicago. Xã hội được chia thành năm phái dựa trên khả năng của mỗi người : Abnegation (Vô vị lợi), Amity (Huynh đệ), Candor (Trung thực), Erudite (Thông thái) và Dauntless (Dũng cảm). Sự phân chia này dựa theo kết quả trắc nghiệm khoa học của từng cá nhân.

Dù được sinh ra trong gia đình truyền thống của phái Vô vị lợi, thế nhưng bảng trắc nghiệm của Beatrice cho thấy cô không thuộc về bất cứ phái nào trong danh sách trên. Đó là trường hợp rất đặc biệt, không nằm trong phạm trù chung : Dị biệt. Cô có thể trở thành mối nguy hiểm vì có suy nghĩ độc lập, khó có thể được kiểm soát và làm đảo lộn trật tự xã hội.

Ngày mà mọi người phải chính thức tuyên bố cách công khai trong một buổi lễ long trọng rằng mình thuộc phái nào như đã được thiết định, Beatrice quyết định theo phái Dũng cảm (dù cô ta không thuộc phái này theo kết quả trắc nghiệm). Nơi đây, sau đó, cô được đào luyện trở thành dũng sĩ và cũng từ đây cô bắt đầu hành trình chiến đấu phá bỏ trật tự được thiết lập theo chủ thuyết hệ phái khắc nghiệt và cực đoan.

Không chỉ nơi xã hội bị bóp nghẹt bởi chế độ độc tài toàn trị mà con người là nạn nhân như chúng ta vẫn từng chứng kiến trong lịch sử của nhân loại, bộ phim cho thấy vấn đề tiêu cực tồn tại ngay trong thế giới đương đại xem chừng đa nguyên. Thế giới chúng ta được đánh dấu bởi nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng đây cũng là thế giới mà trong đó trí tuệ và khả năng con người được định dạng cho mục tiêu lợi ích. Đỉnh điểm của lợi ích là sự thống trị và kiểm soát. Từ đó, con người chỉ còn hành động theo yêu cầu, theo mặc định cho đến cạn kiệt trí năng, sức lực và trở nên hung hãn cách ngây dại.

Dị biệt là cái khác, tìm về sự tự do và tiếng gọi của sự thiện. Đó mới thật sự là trật tự của thế giới mới. Đây chỉ là tác phẩm văn chương theo thể loại khoa học giả tưởng, nhưng nó lại làm chúng ta liên tưởng tới thế giới hôm nay. Đó là thế giới mà Maurice Bellet[2] nhận định không chỉ có một số vấn đề trục trặc liên quan đến quan điểm, chủ thuyết, chính sách, thể chế,… nhưng trên hết là lỗi “hệ thống”.  “Thay đổi con người ?” mà chúng ta đang nhắm thực hiện “là nguyên lý điên rồ nguy hại nhất”. Maurice Bellet cho rằng “thay đổi con người, đó là thay đổi mối tương quan giữa những con người, chính vì trong mối tương quan đó mà con người sinh ra. Và phải liên tục phá tan vòng kim cô, nơi đó sự vô tận của con người bị giam hãm và đẩy tới sai lệch bởi sự thao túng quyền lực mà bản chất cuối cùng của nó là sự hủy diệt”[3]. Mối tương quan con người là mối tương quan trong sự khác biệt đến “dị biệt”. Sự dị biệt nhiều lúc làm chúng ta lo sợ. Tuy nhiên, chính điều khác biệt đó là sự phong phú của con người. Quả thật, bất cứ sự đồng hóa nào cũng đều xuất phát từ chủ thuyết không tưởng, và mọi chủ thuyết không tưởng đều có khuynh hướng đồng hóa.

Trần Văn Khuê




[1] Xuất hiện thế giới mới sau khi thế giới cũ qua đi.
[2] Maurice Bellet : linh mục dòng Tên, nhà phân tâm học, thần học gia và triết gia. Các tác phẩm của Maurice Bellet được dịch sang  nhiều ngôn ngữ khác nhau.
[3] Maurice Bellet, L’avenir du communism, Bayard, 2013, tr. 91tt.

Thứ Bảy, ngày 31 tháng 5 năm 2014

HỢP LY


Khi nghĩ về cuộc đời mà xót xa cho thân phận làm người. Đời người như chỉ là sự gặp gỡ rồi chia tay. Có người thành công kẻ thất bại, có người hạnh phúc kẻ đắng cay. Nhưng thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đắng cay, cuối cùng phải bỏ lại đàng sau tất cả, để bước theo định mệnh của tạo hóa. Sự chia tay này làm bao nhiêu hoài bão của con người như cuộc phiêu lưu còn dang dở, biết bao dự phóng như mộng mơ chưa thành hiện thực. Từ đó đã để lại trong tâm hồn con người biết bao đau khổ. Phải chăng vì thế mà thi sĩ Nguyễn Du đã phải thốt lên :

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Chúa Giêsu nhập thế. Ngài cũng đã chấp nhận quy luật duyên sinh tan - hợp của kiếp phù du phong trần, nghĩa là sinh ra, vào cuộc trần, gặp gỡ, chết và về trời, chia tay với muôn người. Đây là cuộc chia tay gây ấn tượng nhất, sâu sắc nhất, đẹp nhất của nhân loại với Chúa tể hoàn cầu. Bởi vì nó đã ghi dấu ấn vào lịch sử loài người, để rồi ngàn năm mãi mãi ghi nhớ.

Theo tâm lý thì kẻ đi người ở đều bồi hồi, thổn thức và nhớ thương. Đối với Tông đồ sự ra đi của Chúa Giêsu để lại sự trống vắng, cô đơn, sự mất mát không ai có thể bù đắp được. Bởi vì, Chúa Giêsu đã khắc ghi trong tâm hồn họ biết bao điều hay, vẻ đẹp, biết bao ấn tượng sâu sắc. Nhất là từ đây họ không còn được thấy Thầy Giêsu của mình bằng xương bằng thịt, không còn được thấy Chúa trực tiếp dạy dỗ, không còn cùng đồng bàn với Ngài ... Tác giả sách Công vụ tông đồ đã diễn tả tâm tình đó như sau : “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời” (Cv 1, 11). Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã diễn tả kẻ ở người đi thật tuyệt vời :

“Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.”

Đối với các ông giờ đây tất cả chỉ còn là kỷ niệm, để rồi lưu trữ hoài niệm, mỗi khi nghĩ đến mà nhớ mà thương.

Ngược lại, nơi Chúa Giêsu cũng có nước mắt mặn nồng, máu đỏ trong trái tim nồng ấm. Nếu như người ở lại với tâm hồn trống vắng dại khờ, thì chắc chắn người ra đi cũng với tâm hồn xao xuyến, thao thức và nhớ thương. Thật vậy, tất cả kỷ niệm nơi trần gian đã hóa thành tâm hồn của Ngài. Bởi vì Ngài đã yêu thương con người đến cùng (x.Ga 13, 1).

Nỗi băn khoăn của các Tông đồ bấy giờ cũng là nỗi băn khoăn của chúng ta khi chia tay với người ta yêu quý. Chúng ta là người hậu sinh có thể tâm sự với Ngài khi vui cũng như lúc buồn ? Trong lúc cuộc đời với biết bao cạm bẫy, thách thức khiến ta phải vượt qua.

Trước lúc Chúa về trời, Ngài đã hứa : “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20), nhất là qua Bí tích tình yêu nhiệm mầu, con người lại được liên kết với Ngài. Vì vậy, dầu cho cách mặt nhưng tình Chúa vẫn chan hòa trong tâm hồn và cuộc sống chúng ta. Hơn nữa, trong thinh lặng nguyện cầu chúng ta còn được đắm chìm trong huyền nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Trong thinh lặng chúng ta sẽ bắt đầu tâm sự với Chúa qua làn gió nhẹ và tiếng thì thầm.

Như thế, nếu như duyên sinh làm cho chúng ta xa cách Đấng Tình Quân về thể lý, thì thinh lặng là cửa ngõ để chúng ta bước vào cuộc gặp gỡ, kết hợp thân tình với Ngài, một sự kết hợp miên man mang đến nguồn hạnh phúc an lạc và vĩnh hằng.

E. Trúc Giang, spc


Thứ Sáu, ngày 16 tháng 5 năm 2014

ƯỚC MƠ

Ước mơ chính là nguồn động lực thật sự của cuộc sống, là hạt mầm của mọi thành công khi được “vun trồng” bằng ý chí, lòng quyết tâm và sự nổ lực bền bỉ. Con người sống cần biết ước mơ và tin tưởng, dẫu rằng không phải ước mơ nào rồi cũng sẽ trở thành hiện thực.

Trong cuộc sống, giấc mơ chưa thực hiện được là giấc mơ buồn. Đặc tính của giấc mơ chưa thực hiện lại là giấc mơ lớn. Vì lớn nên mới chưa thực hiện được. Vì vậy, cái buồn của giấc mơ chưa thực hiện vẫn là cái buồn giá trị vì nó mang lại sự lớn lao. Cái chưa thực hiện thúc bách mời gọi đi tới. Thánh Bênađô nói : “Mức độ của tình yêu là yêu không mức độ’’. Đường tình còn dài đã ai đi hết bao nhiêu, nghĩa là tình yêu càng thâm sâu bao nhiêu thì tôi càng miệt mài đi tới bấy nhiêu.

Trên đường về với Cha, tôi chỉ hỏi lòng là đã đi xa tới đâu, đã bay cao bao nhiêu, chứ không hỏi đã yêu Chúa trọn vẹn chưa. Vì con người yếu đuối không bao giờ hoàn hảo được. Từ ngàn xưa Ngài đã biết hồn tôi dang dở, đường tình của tôi là khúc gập ghềnh. Bởi đó, Ngài biết tôi yêu Ngài không trọn vẹn, nhưng Ngài mời gọi tôi đi đến cùng vì : “Ta chẳng bỏ con bao giờ” (Dt 3,5).

Ước mơ chưa thực hiện được làm tăng thêm nồng độ của ước mơ. Tôi có thể xin Chúa cho tôi thực hiện được trọn vẹn ước mơ không ? Câu trả lời ở nơi quan điểm của bạn. Tuy nhiên, khi đạt được ước mơ bạn dễ trở nên tự mãn. Không còn ước mơ thì đời tôi trở nên vô nghĩa vì không còn đường để đi tới, còn gì để mà bay lên.

Ước mơ được thự hiện là hạnh phúc đóng khung trong một bến bờ. Nhưng, hạnh phúc lại vô biên. Tôi muốn ước mơ mãi mãi dù là chưa thực hiện được. Tôi muốn về với Cha mà ở đó tôi sẽ gặp được khung trời mênh mông hạnh phúc và luôn được tự do. Tôi tin rằng hạnh phúc ấy có thật, hạnh phúc ấy chính là Cha tôi. Vì tôi không bao giờ uống cạn ân sủng hạnh phúc ấy, nên đường tôi đi vẫn còn trong mơ. Bởi đó, tôi không xin cho được sớm tới đích, mà xin cho tôi mãi mãi dõi bước về với Ngài sống trung thành trong mơ ước đó thôi.

Đường trường tôi đi dù có vấp ngã thì cũng không làm tôi thất vọng bỏ cuộc. Trên đường về với Cha nếu vì mệt mỏi mà dừng bước và con đường trở nên thật xa, nhưng vẫn có Cha đón chờ. Nếu giấc mơ có nguội lạnh thì đó vẫn là cái nguội lạnh ấm lòng.

Trên đời có cái gì đẹp mà không phải trả giá bằng đau thương ? Không có đau khổ làm sao có vinh quang ? Không có tử nạn làm sao có phục sinh? Không có đổ máu làm sao có cứu chuộc ? Có giấc mơ nào lớn mà không phải trả giá bằng thử thách ? Áng mây trời chỉ bay trên đỉnh đồi. Gió lộng chỉ ở ngoài biển xanh... Tôi phải đi lên vì có Cha phía trước : “Cha ở cùng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).


E. Trúc Giang, spc

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 5 năm 2014

TÌNH YÊU VÀ SỰ KHIÊM HẠ

Bộ phim “Amour” (Tình yêu) của Michael Haneke, đạo diễn người Áo gốc Đức và tác giả kịch bản, được trình chiếu tại Pháp vào tháng 10 năm 2012. Câu chuyện kể về cặp vợ chồng Georges và Anne, giáo sư âm nhạc về hưu. Một ngày Anne, người vợ, bị tai biến mạch máu não và bại liệt một nửa người. Tình yêu của đôi vợ chồng già này từ đó trải qua nhiều thử thách. Không nói tới cái kết bi kịch là chính tay mình kết liễu người vợ yêu quý[1] làm dấy lên tranh luận về cái chết êm dịu – chủ đề đang được tranh cãi trong thời đại chúng ta, cũng như câu hỏi được đặt ra bởi chính Michael Haneke : làm sao giúp người ta yêu thương bớt đau khổ, trong suốt bộ phim chúng ta nhìn thấy hình ảnh của Georges, người chồng, tận tụy phục vụ và yêu thương vợ với cả tấm lòng cùng sự kiên nhẫn cho đến khi nghị lực không còn.

Tình yêu được hiểu cách thông thường như sự đồng cảm và cùng nhịp đập của hai trái tim. Nó làm gắn kết hai con người hay nhiều người từ cảm xúc và tinh thần trong thời gian và không gian. Nó còn là cùng niềm đam mê cũng như sự dâng hiến. Thế nhưng, tình yêu nơi câu chuyện “Tình yêu” giữa Georges và Anne không còn như thế. Anne đã đánh mất cảm thức về quá khứ và hiện tại. Georges cố khơi dậy kỷ niệm ngọt ngào thuở xưa, nhưng điều đó trở nên vô nghĩa. Anne không còn khả năng hồi tưởng cũng không thể hiểu được tình yêu hiện tại. Tình yêu của Georges lúc này hoàn toàn chỉ là tình yêu cho đi trong cô đơn và trong sự mệt nhọc.

Văn chương có nhiều từ hoa mỹ và hình ảnh gợi cảm để mô tả tình yêu. Chúng nhiều đến nỗi mà chúng ta không thể nào tóm gọn trong một câu hay một bài viết. Hình như nó là chủ đề duy nhất được khai triển vô cùng tận ! Vẽ đẹp lung linh của tình yêu cũng như nỗi sầu của chữ “tình” vô hạn. Tuy nhiên, người ta không biết hay cố tình bỏ qua thực tại tình yêu : phải thật sự khiêm hạ lắm mới có thể yêu. Tình yêu đích thực là tình yêu khiêm hạ. Người ta dễ đam mê cái đẹp bên ngoài hơn là cái đẹp tiềm ẩn trong cái gì xấu xí ; người ta dễ bị lôi cuốn bởi cử chỉ đẹp hơn là tính cách lỗ mãng. Chúng ta yêu mến người thương và tùng phục ta hơn là kẻ chống đối ta. Đó hình như là lẽ tự nhiên[2]. Để yêu người không có gì cuốn hút ta, không mang lại cho ta điều gì hữu ích, hay hơn thế nữa hận thù ta, ghét bỏ ta, phản bội ta, chúng ta phải thật sự khiêm hạ lắm mới có thể làm điều đó. Tôi không dám nói nhiều hơn, nhưng tôi tin chắc là ai đã từng trong ngục tù đêm tối mà vẫn một mực yêu thương cho đến cùng hẳn nói cho ta điều đó : phải thật sự khiêm hạ lắm mới có thể yêu thương. Georges là nhân vật văn chương trong tác phẩm “Tình yêu”. Nhưng, nhân vật này được Michael Haneke xây dựng từ chính nghiệm cá nhân. Ông đã trải nghiệm biến cố thật như vậy trong gia đình ông.

Người Kitô hữu bắt gặp tình yêu khiêm hạ trong Đấng yêu thương họ từ ngàn đời và nơi Đức Giêsu Kitô, hiện thân Thiên Chúa yêu thương con người cho đến cùng. Thánh Phaolô viết : “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5, 7-8). “Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” không phải nơi việc đáp trả tình yêu chúng ta, nhưng nơi cách mà Ngài yêu thương ngay khi chúng ta còn là người tội lỗi. Đó là tình yêu tha thứ, tình yêu hòa giải và tình yêu chỉ có mục đích duy nhất : cho con người được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10). Tình yêu khiêm hạ của Thiên Chúa không tìm vinh danh cho chính Ngài, nhưng cho vinh danh con người. Thiên Chúa là tình yêu khiêm hạ. Tình yêu đó được Kinh Thánh diễn tả qua nhiều hình ảnh khác nhau như người khởi xướng, người phục vụ, người tha thứ, người hòa giải, người đồng hành và người mục tử duy nhất tốt lành. Quả thật, phải thật sự khiêm hạ lắm Thiên Chúa mới có thể yêu thương con người cho đến cùng. Và tình yêu đó làm rung động trái tim chúng ta.

Bài viết trùng với Chúa nhật Chúa chiên lành, 11-05-2014.

Trần Văn Khuê





[1] Trong lúc kể chuyện bên cạnh giường và người vợ trong cơn mê sảng Georges đã dùng chiếc gối trùm lên mặt vợ mình cho đến lúc bà chết ngạt.
[2] Xem bài viết khác : “Tình yêu và hận thù : con đường hòa giải” (http://saokhue-saokhue.blogspot.fr/2014/04/tinh-yeu-va-han-thu-con-uong-hoa-giai.html).